Tìm kiếm Blog này


Câu Gốc

Unordered List

Trở Thành Nguồn Phước. Lời Kinh Thánh: Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. (Sáng thế ký 12:1-3)

Blockquote

Tôi Đã Chọn...

Kết quả hình ảnh cho Tôi Đã Chọn


Tôi chống Cơ-đốc-giáo
Gia đình tôi thật ra không thực hành một tôn giáo nào. Cha tôi theo Nho-giáo, nhưng có khuynh hướng tự do. Mẹ tôi theo Phật-giáo như trăm nghìn đồng bào khác, thỉnh thoảng đi chùa chiền lễ bái ngày rằm và mùng một, và ăn chay. 
Riêng tôi, tôi chống mọi thứ tôn giáo; đối với tôi, tôn giáo chỉ là mê tín dị đoan, dành riêng cho hạng đàn bà quê mùa, mù chữ, dốt nát.
Đến bậc trung học, tôi được cha mẹ gởi vào một trường tư thục Công-giáo La-mã ở Huế, không phải vì có lòng mộ đạo, nhưng chỉ vì chúng tôi không tìm được trường nào khác ở vùng ấy. Ngoài những môn học thường lệ, học sinh còn phải học giáo lý cương yếu và đọc kinh trước mỗi giờ học.
Như tất cả các học sinh trong trường, tôi quì gối đọc kinh, hoặc giả bộ đọc, cố ra vẻ trang nghiêm sùng kính nhiệt thành. Nhưng trong thâm tâm tôi ghét mọi điều ấy. Như tôi đã nói, trên nguyên tắc, tôi chống mọi thứ tôn giáo. Nhưng tôi ghét Công-giáo hoặc Cơ-đốc giáo nhất, lúc bấy giờ tôi lầm tưởng hai danh từ này đồng nghĩa.
Là một người yêu nước nhiệt cuồng, nên khi các bạn học mãi vui chơi ngoài phố, tôi say sưa đọc lén đủ thứ tác phẩm cách mạng. Dạo ấy các nhóm cách mạng bí mật mọc lên như nấm, nhằm mục đích đánh đuổi thực dân Pháp và giành lại quyền độc lập cho xứ sở.
Đối với tôi Cơ-đốc-giáo hoàn toàn do thực dân Pháp phát minh, cốt ru ngủ dân ta hầu dễ bề bóc lột và thống trị nước ta mãi mãi; các nhà truyền giáo chỉ là một đội quân tiên phong đi mê hoặc dân chúng và dọn đường cho đạo quân xâm lăng.
Từ tận đáy lòng, tôi hoàn toàn đồng ý với Karl Marx rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng.” Vì thế, khi ra khỏi trường trung học ấy, tôi càng chống nghịch Cơ-đốc-giáo hơn trước.
Đi tìm Chân lý
Sau cuộc thế chiến thứ hai, tôi qua Âu Châu. Cuối năm 1954, tôi lâm bệnh, phải nằm điều trị tại một bệnh viện ở Haute-Savoie (Pháp). Suốt hai năm nằm trong bệnh viện tĩnh mịch, tôi có đủ thì giờ nghĩ ngợi, suy tư. Tôi mơ hồ nhận thấy rằng mang bệnh tật giữa lúc bước vào chỗ rẽ quan trọng trên đường sự nghiệp thật là một thứ hình phạt do một Đấng cao cả đã bất mãn với tôi, với nếp sống vô tư và tội lỗi của tôi. Phải chăng đây chính là triệu chứng báo hiệu một hiểm họa chết mất đang chờ đợi tôi nếu tôi cứ tiếp tục sống theo nếp sống cũ? Từng loạt những câu hỏi cổ điển mà con người tự hỏi từ thuở khai thiên lập địa bắt đầu dày vò tâm trí tôi: “Ta từ đâu đến? Ta làm chi ở đời này? Rồi ta sẽ đi đâu?” Đang khi chưa tìm được lời giải đáp, thì cuộc đời của tôi chỉ là một câu đố, và tôi không thể nào yên tâm được. Vốn có óc hoài nghi, tôi thích đặt câu hỏi về mọi sự và nghi ngờ mọi sự, vì tôi cho rằng hoài nghi là một dấu hiệu tri thức hơn người. Được hấp thụ học vấn Âu Tây, được tiếp xúc với nền văn hóa của Pháp, với óc trào lộng của Voltaire, với óc hoài nghi của Descartes, với luận điệu “Que Sais-je?” của Montaigne, tôi không dễ gì giải quyết những vấn đề thắc mắc ấy. Lo lắng băn khoăn chỉ là bản tính của con người, vì con người vốn hay suy tưởng. Trong không gian và thời gian, con người bị vũ trụ bao la chế ngự và đè bẹp; tuy nhiên, con người vẫn nuôi cao vọng thấu triệt vũ trụ. Khoa học đã thỏa mãn phần nào cao vọng ấy; khoa học đã giúp con người nhận thấy rằng vũ trụ có trật tự, thống nhất và dường như đang hướng về những mục tiêu nào đó. Nhưng làm sao giải nghĩa những sự kiện ấy nếu không nhìn nhận có Đấng Tạo Hóa?
Tôi bắt đầu hỏi: Thượng Đế thực hữu hay không? Hay nói đúng hơn, lý trí của tôi, do trực giác thúc đẩy, biết trước chỉ có thể chọn một trong hai lẽ vô cùng quan trọng; hoặc thừa nhận có Thượng Đế, hoặc thừa nhận một sự phi lý hoàn toàn. Không có Thượng Đế mọi sự đều phi lý, không sao giải thích được, và cuộc đời – như đại văn hào Shakespeare đã viết trong bi kịch Macbeth – chỉ là “một truyện do anh ngốc kể, đầy dẫy tiếng ồn ào và giận dữ mà chẳng có nghĩa lý gì.”
Tạo vật chứng minh rằng nguyên thủy có Đấng Tạo Hóa. Đạo đức và trí tuệ của con người làm chứng rằng con người tất phải do một Đấng Tạo Hóa đạo đức và thông sáng tuyệt vời sinh thành. Thật đúng như một câu Kinh Thánh mà tôi đọc thấy sau này: “Các tầng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi-thiên 19:1). Phương pháp loại suy liên tục để suy luận về Thượng Đế ấy chính là phương pháp trí năng, đi từ cái đã biết mà suy ra cái chưa biết.
Một phương pháp tri thức khác, thuộc phạm vi luân lý, khởi đi từ sự phân biệt Thiện và Ác. Khoa học đã tìm thấy trật tự của vũ trụ. Như thế sao lại không thể chấp nhận một trật tự trong cõi đạo đức? Một trật tự đạo đức mà Antigone, một nhân vật của Sophocle, đã công bố những định luật vẫn khắc sâu trong tâm khảm và lương tâm con người. Theo trật tự đạo đức ấy Thiện phải thắng Ác, phải đánh bại mọi cường lực, bạo tàn của Ác, của bất công, của đau khổ, của sự chết – một việc không thể nào thực hiện trong vũ trụ và nhân sinh hiện tại. Như thế, sao ta lại không thể tin rằng có một Đấng cao cả luôn luôn chăm chú theo dõi việc lành của người thiện, việc dữ của kẻ ác để rồi một ngày kia tái lập trật tự đạo đức và thưởng thiện phạt ác phân minh? Chả thế mà con người khi đứng trước nanh vuốt của bất công, đau khổ và tử thần, đã tìm được nguồn an ủi nơi Thượng Đế và do đó đã đặt lòng tin nơi một lẽ công bình, thanh liêm khiết bạch, cao siêu tuyệt đối. Chính vì thế mà hiền triết Socrate đã tuyên bố không hề sợ chết – mặc dầu ông bị bức phải uống thuốc độc chết cách oan uổng – chỉ vì ông tin rằng bên kia cõi chết còn có một “điều gì dành sẵn cho người thiện, tuyệt hảo hơn điều dành cho kẻ ác.” (Platon, Phédon 63c).
Tôi tiến trên con đường nhận biết Đức Chúa Trời – nhưng đây mới chỉ là một nhận thức mơ hồ, một khái niệm, không hơn không kém. Ý niệm về Đức Chúa Trời ở mỗi người mỗi khác: dường như không có mối liên quan nào giữa Thượng Đế của người Démangs ở Mã-lai; Ngọc-hoàng, Đấng chí tôn, Thượng Đế của phái Vệ-đà ở Ấn-độ; Thượng Đế của Aristote, của Spinoza và Đức Chúa Trời của Cơ-đốc-giáo. Thượng Đế của tôi lúc bấy giờ còn là “Đức Chúa Trời của các nhà triết học và bác học” – danh từ Pascal đã dùng để đối chiếu với “Đức Chúa Trời của Chúa Cứu Thế Giê-xu.”…….Thật ra tôi cố ý gạt bỏ Cơ-đốc-giáo ra ngoài suy luận, vì tôi không bao giờ nghĩ rằng Cơ-đốc-giáo có thể đem lại câu giải đáp mà tôi đang tìm kiếm.
Trong khi tìm kiếm chân lý, tôi không quên tham khảo các tôn giáo của tổ tiên. Tôi gia công nghiên cứu kỹ càng Nho-giáo và Phật-giáo, hai hệ thống tôn giáo chính của nước nhà, và lần này, với một một tinh thần không thiên kiến và một tấm lòng cởi mở. Nhưng dầu tôi đã tận tâm nghiên cứu, Nho-giáo và Phật-giáo vẫn không làm thỏa mãn được tấm lòng khát khao chân lý của tôi.
Đức Chúa Trời của Chúa Cứu Thế Giê-xu
Giữa khi tâm trí tôi đang hoang man rối loạn, một hôm, một nhà truyền bá Phúc Âm ghé thăm tôi. Ông đến vào lúc tôi đang sửa soạn đi nghỉ theo lời bác sĩ căn dặn. Tôi miễn cưỡng tiếp ông mặc dầu gần như muốn đuổi khéo ông ra cửa. Hai bên chỉ gặp nhau ở một điểm – ông ta đã viện lẽ ấy để bước vào phòng tôi – là hai chúng tôi cùng nói được tiếng Anh. Thế là chúng tôi dùng Anh-ngữ đàm đạo về Cơ-đốc-giáo.
Tôi nhẹ cả người khi ông đứng lên từ giả, nhưng trước khi đi, ông còn tặng tôi một quyển Kinh Thánh Tân Ước và khuyên tôi đọc. Theo phép lịch sự, tôi nhận quyển sách mặc dầu chẳng muốn đọc tí nào. Chờ ông đi khỏi, tôi bỏ quyển sách bìa xanh, cỡ bỏ túi, vào ngăn bàn. Ác cảm từ thuở niên thiếu đối với Cơ-đốc-giáo đã dịu bớt từ lâu, nhưng tôi vẫn còn nhiều nghi kỵ. Tôi đã từng được dịp – nhất là những năm lưu trú ở Anh quốc – bắt gặp một quyển Kinh Thánh hoặc các sách Cơ-đốc-giáo khác, nhưng chẳng bao giờ tôi tọc mạch mó tay đến loại văn chương quá buồn tẻ đó chỉ dành cho riêng một hạng người đặc biệt, như các linh mục và mục sư.
Tuy nhiên, từ khi quyển sách nhỏ ấy nằm trong ngăn bàn, mỗi khi kéo ngăn ra, mắt tôi lại phải nhìn thấy nó, tay lại đụng đến nó. Ác cảm cố hữu của tôi lần lần tiêu tan và tôi bắt đầu mở sách, liếc mắt đọc qua. Tôi chợt có ý muốn nghiên cứu quyển sách ấy để tìm hiểu những điển tích Kinh Thánh nhan nhản trong văn chương Anh Pháp. Tôi nhận thấy rằng nếu không đọc qua Kinh Thánh, là quyển sách căn bản của một nền văn hóa đang chi phối hàng nghìn triệu người thì kiến thức tôi còn nhiều khuyết điểm. Mặt khác, nhà truyền đạo vẫn kiên nhẫn đến thăm tôi đều đều để bàn luận về Cơ-đốc-giáo, lẽ nào tôi cứ chịu đóng vai câm, điếc trước mặt ông ta.
Tôi phải cố gắng mãi mới có thể bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh Tân Ước cách chín chắn. Dần dần tôi càng say mê đọc quyển sách nhỏ ấy như một quyển tiểu thuyết mê lòng nhất. Tôi bỏ cả thì giờ, thu hết tâm trí vào việc nghiên cứu và càng đọc, càng muốn đọc thêm. Tôi gởi mua một bộ Kinh Thánh toàn thư; ít lâu sao, tôi nhận được quyển Kinh Thánh có tham chiếu do tiến sĩ scofield chú giải. Tôi đọc suốt từ đầu đến cuối, và gởi mua thêm nhiều tác phẩm luận về các phương diện khác nhau của đời sống Chúa Giê-xu và lời giáo huấn của ngài. Tôi cảm thấy càng khao khát biết thêm về “Đức Chúa Trời của Chúa Cứu thế Giê-xu,” một cơn khao khát chưa hề có trong đời tôi.
Cố nhiên lúc ấy tôi chưa hiểu biết mọi điều trong Kinh Thánh – đến bây giờ tôi cũng không dám nhận là đã thấu triệt đâu. Nhưng với lòng khiêm tốn, tôi nhận rằng với trí tuệ hữu hạn của con người, tôi không dám mong hiểu thấu tức khắc toàn thể chân lý thần diệu. Tôi đồng ý với Descartes và Spinoza, là hai triết gia đã chủ trương rằng mọi khái niệm rõ rệt của tâm hồn chắc chắn là chân xác, rằng lương tâm phải là tiêu chuẩn duy nhất của tín ngưỡng. Từ nghìn xưa, trí óc loài người đã bị dày vò và tuyệt vọng khi đi tìm lời giải đáp những câu hỏi quan trọng: “Khôn ngoan ở đâu? Chân lý là gì?” Pyrrhon, một đại triết gia hoài nghi Hi-lạp, từng theo gót đạo quân viễn chinh của Alexandre sang Ấn-độ và từng phiêu lưu trong hoài nghi phổ quát, đã phải tuyệt vọng vì không thể tìm ra chân lý. Triết gia Ludwig Feuerbach, người đã bỏ thần học quay sang nghiên cứu triết học, đến giờ hấp hối, tâm trí bị dày vò rối loạn cực điểm trong một nỗi thống khổ sâu xa, đã phải thú nhận rằng cuộc tìm tòi của mình là vô hiệu quả, và trước khi tắt hơi ông rên rĩ: “Chân lý ơi, chân lý hỡi! Ngươi ở đâu?”
Triết học không thể giải quyết vấn đề nầy cách ổn thỏa. Vì con người – con người thiên nhiên – bị mù quáng. Con người sinh ra trong xác thịt, và chính vì bản chất xác thịt, nên không thể nào hiểu nổi những việc siêu nhiên và thiêng liêng, là những điều mắt chư thấy, tai chưa nghe và lòng người chưa hề nghĩ đến (I cô-rinh-tô 2:9). Trí năng của con người tự nó không thể tìm ra chân lý thiêng liêng, đúng như lời tôi đọc trong Thánh Kinh sau này: Đức Chúa Trời phán: Ý tưởng các ngươi chẳng phải là ý tưởng ta; đường lối Ta chẳng phải là đường lối các ngươi. Vì các tầng trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối Ta cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu. Con người thiên nhiên dẫu tài hoa, đạo đức, học thức, thông minh đến đâu, cũng không thể nào nhận thức được chân lý thiêng liêng, vì xác thịt thù nghịch với Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:7). Đúng như lời Chúa Giê-xu đã phán: Lạy Chúa của trời đất, tôi tạ ơn Cha vì Ngài đã giấu điều này với người khôn ngoan thông sáng, mà tỏ cho con trẻ hay (Ma-thi-ơ 11:25). Đối với người thiên nhiên, những điều thuộc linh có vẻ vô nghĩa điên dại.
Tâm trí con người cần phải đổi mới trước khi nhận thức chân lý, bước đầu tiên cho sự đổi mới là tiếp nhận Đức Chúa Trời, nhìn nhận Ngài thực hữu. Lúc ấy Ngài mới ban cho ta khôn ngoan để hiểi biết những điều mầu nhiệm của Ngài.
Tin quyết như Aristote rằng: “Cách học gảy thụ cầm (harpe) tốt nhất là gảy ngay, ” Tôi quyết định nhìn nhật Đức Chúa Trời là một thật sự của đời sống hằng ngày và đầu phục Ngài vô điều kiện. Tôi nhìn nhận rằng muốn tìm thấy chân lý, trước hết phải cởi bỏ những định kiến, những quan niệm mà loài người thường cho là xác thực. Tôi muốn tin trong lòng, chứ không phải nhận bằng trí óc.
Với tâm trạng ấy, tôi đọc lại Kinh Thánh hằng ngày, tĩnh tâm đọc chậm chạp từng câu một, lúc nào cũng cố lắng nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời. Tôi đã tới mức ganh đua với Pascal mà cầu nguyện bằng Kinh Thánh hơn là đọc Kinh Thánh. Chẳúng bao lâu, ánh sáng tràn ngập tâm trí tôi; tôi được liên lạc với Chúa Giê-xu và những mối nghi ngờ của tôi lần lượt tiêu tan hết. Dường như nhiều “vảy cá” đã rơi khỏi mắt tôi, và những điều trước kia tôi cho là rất khó hiểu, thì bây giờ lại hóa ra giản dị, sáng sủa. Vì Đức Chúa Trời làm được mọi sự, nên tôi có thể tin nhận toàn bộ Kinh Thánh, không chút e dè, cả đến những điểm mới xem có vẻ như mâu thuẫn, vì chính Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dứt khoát khiến cho Kinh Thánh đầy ý nghĩa và đủ bằng chứng xác thực. Trong Kinh Thánh quả có “đủ ánh sáng để rọi đường cho những người nào muốn được soi sáng” như Pascal đã nói.
Khi đọc Kinh Thánh, tôi hoàn toàn nhận biết tình trạng khốn nạn, không xứng đáng của mình, và hiểu rằng tôi ô uế, hư hoại như mọi người thiên nhiên khác. Tội lỗi đã đào một hố sâu giữa Đức Chúa Trời và tôi, và khiến Ngài quay mặt không nghe tiếng tôi (Ê-sai 59:2). Vâng, hết thảy loài người đều phạm tội – tôi không được ngoại trừ – và tiền công của tội lỗi là sự chết, là lửa đời đời trong vực sâu, địa ngục (Rô-ma 6:23). Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban Con Một của Ngài. Chúa Giê-xu đã xuống mặt đất khốn nạn này để chịu đau đớn và chịu chết thế cho ta, ngõ hầu huyết Ngài đổ ra xóa sạch tội lỗi loài người. Nhờ đó, khi ta tin đến Chúa Giê-xu, ta được phục hòa với Đức Chúa Trời, được thừa nhận là con cái Ngài. Kinh Thánh nhiều lần công bố rằng sở dĩ ta được cứu rỗi không phải nhờ việc lành, hi sinh hoặc công đức riêng, nhưng chính là nhờ lòng yêu thương, nhân từ của Đức Chúa Trời. Ấy là nhờ ân sủng, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:8-9).
Sự cứu rỗi là một tặng phẩm, một ân tứ vô điều kiện của Đức Chúa Trời; Không thể mua được hay trả giá bất cứ cách nào. Không thể nào được cứu rỗi do việc lành, cầu kinh, thánh lễ, kiêng ăn hoặc ép xác khổ tu (Cô-lô-se 2:20-23; I Ti-mô-thê 4:1-5), hoặc bởi một nghi lễ tôn giáo nào. Ta chỉ cần tiếp nhận và quý chuộng ân tứ ấy cùng kính yêu Đấng đã thi ân. Tôi vốn là một tội nhân, không thể tự cứu lấy mình; tôi cần Chúa cứu, ngoài Chúa Giê-xu không ai cứu được tôi. Ngài đã đổ huyết trên thập tự giá để tẩy sạch tội lỗi tôi (I Giăng 1:7), và hòa giải giữa Đức Chúa Trời và tôi. Ngài đã chịu chết vì tội lỗi tôi, để tôi được sự sống mới, sự sống đời đời. Chỉ nhờ Chúa Giê-xu, chúng ta mới biết được Đức Chúa Trời, không nhờ Ngài chẳng ai được đến cùng Đức Chúa Cha (Giăng 14:6).
Tôi đã tiếp nhận Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế của chính tôi.
Tái Sinh
Sự cứu rỗi là một việc riêng giữa ta và Chúa Cứu Thế. Tin Chúa Cứu Thế không phải chỉ có nghĩa là tin một vài điều liên quan đến Ngài. Chỉ lấy trí óc mà tán đồng các chân lý của Phúc Âm thì chưa đủ; lắm tín đồ chính thức đã trung thành vâng giữ luật pháp Chúa Cứu Thế, nhưng họ chỉ có một tín ngưỡng trong trí óc, chứ chưa có đức tin thật. Muốn vào Nước Đức Chúa Trời, ta phải trở thành đơn sơ như con trẻ – nói cách khác, ta cần một tấm lòng đơn thuần hơn là sử dụng thái quá óc phê bình và trí năng duy lý; ta cần phải tin cậy hoàn toàn tiếng phán của Đức Chúa Trời như con trẻ tin cậy cha. Giữ đúng các nghi lễ của giáo hội cũng chưa đủ để thay đổi tấm lòng xấu xa và tội lỗi của con người. Ngày xưa, thuật sĩ Si-môn đã theo đạo và chịu báp-tem, nhưng vẫn không có lòng ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời, vì chưa thật lòng tin nhận Chúa (Công-vụ 8:13, 21-24); trường hợp ấy đủ soi sáng cho ta.
Muốn trở thành tín đồ Chúa Cứu Thế, ta phải khiêm cung đặt hết lòng tin nơi Chúa hằng sống. Trước hết ta phải ăn năn và đầu phục Chúa Cứu Thế cách hoàn toàn, tuyệt đối không chút dè dặt, cùng cầu xin Ngài cứu vớt ta, tha thứ tội lỗi ta. Khi một người hoàn toàn tin cậy Chúa, tội lỗi liền được tha và Chúa Cứu Thế ngự vào lòng người ấy. Cả đời sống người ấy được đổi mới, một lối sinh hoạt mới mẻ bắt đầu từ đây. Đối với người tín đồ chân thật, Đức Chúa Trời luôn luôn hiện hữu. Ta biết Chúa, yêu Chúa, thờ phượng Chúa. Chúa là nguồn vui thỏa của ta. Làm theo ý Ngài là mục đích chính của đời ta. Nhiều tư tưởng mới mẻ thành hình trong tâm trí ta. Ta đánh giá mọi sự theo một giá biểu mới: ta yêu nhiều điều trước kia ta ghét, nhiều điều trước kia ta mến chuộng nhắc lại trở thành vô vị, lạt lẽo. Nhiều qui tắc sinh hoạt mới mẻ, nhiều cớ tích hành động cao thượng và nhiều ước vọng tân kỳ đã thành hình trong ta. Ta có những sở thích thuộc linh mới mẻ hướng về những giá trị cao cả, thanh khiết và bất diệt. Chúa ban cho ta một quyền năng siêu việt để chế ngự tội lỗi, vì Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho ai bị cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho anh em ra khỏi, để anh em có thể chịu được (I Cô-rinh-tô 10:13). Bây giờ ta thích cầu nguyện – sự cầu nguyện thật chính là hầu chuyện và tương giao với Đức Chúa Trời. Ta yêu anh em trong Chúa và tìm cách gần gũi họ.
Những thay đổi ấy chứng tỏ rằng ta vượt khỏi sự chết mà đến sự sống, rằng ta đã được sự sống mới. Tâm linh chết và bất động mà ta thừa hưởng từ lúc sinh ra nay được Chúa Thánh Linh làm cho sống, thế là ta được tái sinh. Sự tái sinh thật cần thiết, vì chưa tái sinh người thiên nhiên không thể nào đẹp lòng Chúa hay vâng lời Ngài, cũng không thể nào hiểu biết Ngài được. Ni-cơ-đem là một nhà trí thức thông thạo các vấn đề trong Kinh Thánh, cũng là một người sùng đạo, đã từng lãnh đạo dân Do-thái ngày xưa. Nhưng Chúa Giê-xu đã phán với Ni-cơ-đem: Nếu một người chẳng sinh lại (tái sinh), thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời…. Các ngươi phải sinh lại (Giăng 3:3-7). Ta phải được Thánh Linh Đức Chúa Trời sinh lại, mới được nhập vào gia đình Ngài, mới được lãnh sự sống đời đời, mới có thể nối lại sự tương giao mật thiết với Ngài, một sự tương giao đã gián đoạn từ khi A-đam, thủy tổ loài người, sa ngã.
Kinh nghiệm tái sinh không phải là những mơ mộng viễn vông, nhưng là một sự thật hiển nhiên mà cả tâm thần ta đều cả biết. Ai đã giao phó đời mình vào tay Chúa Giê-xu đều có kinh nghiệm ấy. Đã đành không phải ngay tức khắc ta có thể kinh nghiệm một sự đổi mới hoàn toàn; trong trường hợp của tôi, sự thay đổi được thực hiện lần lần, nhưng hằng ngày tôi có thể cảm biết mình đang đổi mới. Trên hết mọi sự, tôi mong ước rũ sạch mọi cuồng vọng phù du của cuộc sống quá khứ cùng những sự hư ảo của một cõi đời tội lỗi, xa vắng Chúa. Danh vọng, sự nghiệp, tiền của không còn quan hệ nữa. Tôi thấy không khó vâng lời theo Chúa phán: Đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống, cũng đừng vì thân thể mà lo đồ mặc……Cha trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi. Nhưng trước hết hãy tìm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho thêm các người mọi điều ấy nữa…… Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay chăm sóc anh em! Tôi sực nhớ một câu Kinh Thánh, như một sự thật chói sáng mà chính bản thân tôi được kinh nghiệm: Vậy, ai ở trong Chúa Cứu Thế, chính là người được tái tạo; những việc cũ đã qua đi, này, mọi sự đều trở nên mới (II Cô-rinh-tô 5:17).
Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu 
Nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời, nay tôi đã là tín đồ Chúa Giê-xu, vậy tôi phải gia nhập giáo hội nào?
Nói cách chung, nhiều người theo đạo Tin Lành hay Công Giáo là vì cha mẹ theo Tin Lành hay Công Giáo, và họ chỉ thừa nhận tôn giáo của gia đình. Riêng phần tôi không thể theo cách tự nhiên như vậy. Tôi phải lựa chọn, và sự lựa chọn này không dễ dàng như người ta thường tưởng. Vấn đề cứu rỗi linh hồn quá ư quan trọng nên thận trọng đến mấy cũng vẫn chưa đủ. Không nhớ tôi đã đọc bao nhiêu sách thần học để phân biệt các điểm dị đồng giữa các giáo hội, đã bị bao nhiêu cơn nhức đầu và chịu bao nhiêu đêm mất ngủ suốt những tháng xao xuyến trong tâm hồn đó. Đêm nào tôi cũng cầu nguyện Đức Chúa Trời rằng: “ôi, lạy Cha trên trời, xin Chúa mở trí khôn cho con và ban ánh sáng chiếu rọi cho con nhận biết đường lối Chúa và phân biệt hội thánh của Chúa để con có thể theo Chúa cách vững vàng và an ninh trọn vẹn. Lạy Đức Chúa Trời, xin Chúa giúp con, vì con không thể tự mình quyết định được.”
Cuối cùng lời cầu nguyện của tôi đã được Chúa nhậm. Biết trước trước mỗi thắc mắc của tôi, Chúa Giê-xu đã giải đáp cách rõ rệt trong Kinh Thánh, một lời giải đáp trước kia tôi đọc qua nhiều lần, nhưng chưa nhận thấy hết ý nghĩa sâu sắc và linh động: Ta là Đường Đi, Chân Lý và Sự Sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha (Giăng 14:6).
Tôi chợt thấy rằng các giáo hội dầu mang danh hiệu gì – Công-giáo, Anh-giáo, Giáo-hội Luther hoặc Tin Lành – cũng đều do loài người thiết lập. Các giáo hội ấy có thể sao lầm hay không, tốt hay xấu, chỉ huy khéo hay tổ chức vụng, và do đó làm hài lòng ta hay khiến ta thất vọng. Nhưng hội thánh duy nhất không thể lừa dối hi vọng của tôi chính là hội thánh Chúa Cứu Thế Giê-xu, sự dạy dỗ duy nhất giữ tôi khỏi lạc đường chính là sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Mỗi tín đồ có bổn phận đọc Kinh Thánh hằng ngày (Giô. 1:8; Thi-thiên 119:67; Cô-lô-se 3:16), vì Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, và người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:4). Đời sống theo Chúa là một cuộc tăng trưởng không ngừng, một cuộc nẩy nở liên tục; đời sống ấy cần các món ăn bổ dưỡng tâm linh mà ta được tự do thưởng thức trong Kinh Thánh. Hãy ham thích sữa thiêng liêng của Đạo hầu cho anh em nhờ đó lớn lên (I Phi-e-rơ 2:2). Vì thế ta cần phải đọc, nghiên cứu, suy gẫm và học thuộc lòng Kinh Thánh. Sứ đồ Giăng đã viết: Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri này, và giữ theo điều đã viết ra đây; vì thì giờ đã gần rồi.
SUU TAM


Đọc Tiếp ...

ĐẤNG TẠO HÓA YÊU THƯƠNG THẾ GIAN

Kết quả hình ảnh cho ĐẤNG TẠO HÓA YÊU THƯƠNG THẾ GIAN


  Có Đấng Tạo Hóa không?
Có người cho rằng vũ trụ nầy tự nhiên mà có. Bạn có tin điều ấy không?
Khi khoa học chưa phát triển, thì con người bị rơi vào đủ thứ mê tín, dị đoan; đến nỗi họ sẵn sàng thờ lạy mọi điều chi làm cho mình sợ hãi và gọi đó là Thượng Đế. Nhưng khi khoa học mới phát triển được một chút, thì có người lại bạo miệng nói rằng không có Thượng Đế. Cả hai thái độ trên đều không đúng, vì như những đồng tiền giả trên thị trường không thể phủ nhận giá trị của những đồng tiền thật, thì cũng vậy, người ta không thể dựa vào sự thờ lạy quá đáng của người thượng cổ hay một vài phát minh của khoa học để nói rằng không có Thượng Đế.
Vũ trụ không thể tự nhiên mà có
Hãy nhìn chiếc đồng hồ đeo trên tay hoặc trong nhà bạn, có ai dám nói rằng cái đồng hồ nầy tự nhiên mà có, không? Chỉ có những người không bình thường mới dám nói như vậy! Có một nhà khoa học nổi tiếng đã tiếp một người bạn vô thần tại nhà mình; khi nhìn thấy mô hình thái dương hệ trên bàn, anh ta thử quay cái trục cho nó chuyển động và kêu lên rằng: “Ồ! Anh làm cái nầy tuyệt quá”.
Nhà khoa học trả lời rằng: “Không đâu, nó tự nhiên  mà có đấy.”
Người bạn nói: “Nầy, anh nói đùa với tôi đấy à?”
Nhà khoa học bèn đáp: “Anh ơi, chỉ có một món đồ chơi cỏn con mà anh còn không tin rằng nó tự nhiên mà có, thì làm sao anh lại tin rằng cái vũ trụ tuyệt vời nầy có thể tự nhiên mà có được?”
Trong phút chốc, người bạn vô thần bỗng nhìn thấy sự mâu thuẫn của mình, và một thời gian sau đó, anh ta đã trở nên một con cái Chúa.
Sự sáng tạo vũ trụ
Có một số nhà khoa học cho rằng vũ trụ nầy đã được hình thành cách đây khoảng năm tỉ năm, một số khác thì lại cho rằng có thể khoảng bảy tỉ năm hoặc nhiều hơn nữa … Nhưng tất cả đều đồng ý với nhau rằng vũ trụ nầy đã có một khởi nguồn …
Kinh Thánh chép: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”(Sáng thế ký 1:1).
Cái khoảng thời gian mà con người cho là nhiều tỉ năm thì Kinh Thánh chỉ dùng hai chữ “ban đầu” để mô tả: đó là khởi điểm của thời gian mà vũ trụ được hình thành, và Kinh Thánh là quyển sách duy nhất trên thế giới khẳng định rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ.
Nguồn gốc của Đức Chúa Trời
Nhưng có người lại cắc cớ hỏi rằng: “Vậy, ai đã sinh ra Đức Chúa Trời?” Đây là một câu hỏi hoàn toàn mâu thuẫn, vì nếu có ai đó đã sinh ra Ngài thì Ngài đâu phải là Đức Chúa Trời nữa – thật chẳng khác nào lại đi hỏi rằng: “Cái gì có trước cái đầu tiên?” Dù vậy, trong Kinh Thánh có ghi lại lời phán của Đức Chúa Trời một cách tỏ tường rằng: “Ta là Đấng Tự-Hữu Hằng-Hữu”, tức là Đấng tự có và hằng còn lại cho đến đời đời vô cùng (trích từ sách Xuất Êdíptô ký 3:14 trong Kinh-thánh).
Niềm tin của những nhà khoa học
Nhưng, dù sao thì các nhà khoa học cũng chỉ có thể tổng hợp những cái đã có sẵn để cho ra những cái mới mà họ chưa biết, chứ họ không thể lấy từ cái không không mà tạo ra vật chất. Như vậy, mọi việc mà con người có thể làm đều dựa trên những cái mà Đức Chúa Trời đã tạo ra .. Vả lại, phạm vi nghiên cứu của khoa học chỉ là vật chất và những chuyển động của nó; còn vấn đề có Đấng Tạo Hóa hay không thì hoàn toàn không thuộc phạm vi của khoa học. Cho nên, nếu dựa vào khoa học để bài bác sự hiện hữu của Đức Chúa Trời thì đó chỉ là việc làm của những người thiếu tự-trọng. Vì vậy, đa số những nhà khoa học trong lịch sử nhân loại đều là những người tin có Đấng Tạo Hóa, chứ không phải là những kẻ vô thần.
Niềm tin của cả nhân loại
Không ai có thể phủ nhận được sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Dầu những người tự xưng mình là vô thần, nhưng trong những lúc cùng khốn của cuộc đời, họ vẫn kêu lên rằng: “Trời ơi!”, chứng tỏ họ tin có một Đấng có thể nghe thấu  nỗi lòng của họ.
Như vậy, từ trong tâm trí cũng như trong nơi sâu thẳm của tấm lòng, mỗi con người đều nhìn nhận rằng có một Đấng Tạo Hóa đã dựng nên vũ trụ, mà trong đó có cả con người của chúng ta.
Chúng ta có mối quan hệ như thế nào với Đấng Tạo Hóa?
Biết rằng có Đấng Tạo Hóa là vấn đề quan trọng nhất của đời sống, vì nếu một người không tin có Đức Chúa Trời thì cũng chẳng khác nào như một người con, khi lớn lên lại tuyên bố rằng mình không có cha mẹ và cũng chẳng cần tới cha mẹ nào cả. Bạn có vui lòng không khi biết rằng trong tương lai, con mình sẽ đối xử với mình như thế?..
Nhưng, điều quan trọng kế tiếp là chúng ta phải biết rằng mình có mối quan hệ như thế nào với Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ?..
Kinh Thánh, là quyển sách chứa đựng những lời phán của Đức Chúa Trời, có chép rằng: “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian” (Giăng 3:16), nghĩa là Ngài yêu thương mọi con người sinh ra trong thế gian nầy, không phân biệt ai hết. Ngài không yêu thương những việc không tốt mà con người đã làm, nhưng Ngài yêu thương chính con người.
Đây là một điều vượt quá trí tưởng của con người qua mọi thời đại. Người ta thường hay hình dung ra Đức Chúa Trời một cách méo mó theo sự tưởng-tượng của mình, rằng Ngài là một Đấng rất đáng sợ và thường gây đau khổ cho loài người.. Thật, chẳng khác nào khi lòng nhơn từ thúc giục bạn bế một đứa bé bị ngã về tới nhà, nhưng khi những người thân nổi nóng và hỏi nó rằng: “Ai làm cho mầy bị ngã?” thì nó lại chỉ vào chính bạn … Trong đau khổ, người ta thường kêu Trời – nhưng khi đã được tai qua nạn khỏi, người ta bèn ăn chơi phè phỡn và thờ lạy tà thần. Kinh Thánh đã xác định rằng bất cứ một thần thánh nào không phải là Đấng Tạo Hóa đều là tà thần. Dù vậy, cũng giống như những người thân kém ý thức của đứa bé bị ngã kia, sau đó người ta lại cho rằng những khổ đau ấy là do Trời đem lại …
Thưa bạn, hầu hết những đau khổ trên thế gian nầy là hậu quả của chiến tranh, lòng tham lam, ghen ghét, say sưa, dối trá, thủ đoạn, buôn bán phụ nữ – trẻ em, .. đều là do con người mà ra. Cũng chính những tội lỗi đó đã khiến cho thế giới nầy ngày càng đi sâu vào vực thẳm của sự chà đạp lẫn nhau và chúng ta không thể nói trước rằng tận thế sẽ đến vào lúc nào – khi những kho vũ khí hủy diệt của con người, bởi lòng hận thù, sẽ được đem ra để sử dụng hàng loạt …
Cái vũ trụ mà chúng ta hiện đang thấy đây chỉ là vật chất, nó đã có lúc được dựng nên và cũng có lúc nó sẽ qua đi theo thời gian. Nhưng khi dựng nên con người, Đức Chúa Trời lại ban cho họ một điều cao quí hơn hẳn muôn vật, đó là một tâm-linh bất diệt. Nhờ đó, con người có thể tương giao với Đức Chúa Trời như một người Cha và cùng vui hưởng sự sống đời đời với Ngài trên Thiên Đàng.
Đức Chúa Trời đã dựng nên Thiên Đàng cho con người ngay từ buổi đầu sáng thế và Ngài cũng dựng nên Hỏa Ngục cho ma quỉ là những thần linh gian ác, xấu xa. Nhưng khi tội lỗi đã xen vào thì con người đã hoàn toàn thay đổi, và thay vì đi vào con đường sự sống thì họ lại đi vào con đường dẫn tới sự chết đời đời.
Nhưng Kinh Thánh lại xác định với chúng ta rằng bản chất của Đức Chúa Trời là tình yêu thương và tình yêu thương ấy Ngài dành trọn cho nhân loại là những con người mà Ngài đã tạo đựng. Cho dù bạn là ai và bạn đã từng làm gì thì điều đó không quan trọng. Chỉ có một điều quan trọng mà bạn cần biết ấy là Đức Chúa Trời yêu thương bạn. Bạn có bao giờ nghĩ rằng mọi tình yêu trong thế gian nầy là do Đức Chúa Trời mà ra không? Phải, mọi tình yêu chân chính đều đến từ Đức Chúa Trời và Ngài không chia tình yêu của Ngài ra cho mọi người, nhưng Ngài yêu thương mỗi con người bằng cả tình yêu của Ngài.
Thượng Đế yêu thương những người già cả cũng như những trẻ thơ, Ngài yêu thương những người hiền lành cũng như những người đã từng phạm vô số sai lầm. Kinh Thánh chép rằng: “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian”
Cho dù rằng “thế gian” có nghĩa là “gian như thế” đi nữa, nhưng điều đó cũng không làm thay đổi được tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Khi con bạn được khỏe mạnh, bạn thấy mọi sự vẫn diễn ra cách bình thường. Nhưng khi con bạn bị ngã bệnh, bạn mới thấy rằng mình yêu thương con đến mức không thể tưởng được, thậm chí bạn sẵn sàng đem mạng sống mình để đổi lấy cho con. Đức Chúa Trời cũng vậy, tình yêu thương mà Ngài dành cho mỗi con người là đầy trọn, và khi tình trạng của họ càng tệ hại chừng nào, thì tình yêu thương đó càng được bày tỏ rõ ràng hơn chừng nấy.
Đức Chúa Trời đã làm gì để cứu con người ra khỏi tội-lỗi?
Kinh Thánh chép tiếp rằng: “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài”.
Nếu vũ trụ nầy tự nhiên mà có thì nó chỉ là một vũ trụ vô tri. Nhưng nếu có một Đấng Tạo Hóa đã dựng nên vũ trụ thì Ngài có thể bày tỏ chính mình Ngài cho nhân loại – và Ngài đã làm việc ấy qua sự giáng sinh của Chúa Jêsus tại máng cỏ Bếtlêhem cách đây 2000 năm. Bạn có để ý tới hai chữ “giáng sinh” không? Không một con người nào trong nhân loại được phép dùng tới hai chữ đó ngoại trừ Chúa Jêsus. Nó có nghĩa là “Đấng Tạo Hóa được sinh ra làm người” và đó là cách mà Đức Chúa Trời đã lựa chọn để viếng thăm nhân loại.
Kinh Thánh đã khẳng định nhiều lần rằng loài người – vì tội lỗi, sẽ không thể nào sống nổi nếu nhìn thấy sự vinh quang của Đấng Tạo Hóa. Cho nên, Ngài đã bằng lòng được sinh ra như một con người để gần gũi với chúng ta và nói cho chúng ta biết về tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Nhờ đó, Ngài có thể che giấu vinh quang của Ngài trong hình hài của một con người và chỉ phát lộ cách dịu dàng để mọi người đều có thể đến gần được …
Có một lần, Chúa đụng vào một người cùi và người ấy đã được chữa lành lập tức … Một lần khác, Chúa đã phán với một người mù và người ấy đã được sáng mắt hoàn toàn … Một ngày nọ, Ngài đã phán với bão tố trên biển Galilê thì nó liền yên lặng như tờ … Tất cả những điều lạ lùng ấy xảy ra trong cuộc đời Ngài đã chứng tỏ rằng Đấng Tạo Hóa đã từng sống ở giữa nhân loại … Nhưng điều lạ lùng hơn hết, ấy là vào cuối cuộc đời chức vụ -Ngài đã bằng lòng bị đóng đinh trên cây thập tự để chuộc tội cho nhân loại …
Đây là trung tâm chức vụ của Chúa Jêsus, là việc lớn lao hơn hết mà Ngài đã đến thế gian để thực hiện. Khi chữa lành thân thể của chúng ta, Chúa muốn nói rằng Ngài rất mong chúng ta có được một đời sống bình an và hạnh phúc ngay trong đời nầy. Nhưng khi chịu đóng đinh để chuộc tội cho chúng ta, ấy là Ngài muốn đem lại cho chúng ta sự tha tội và một đời sống mới, cho tới chừng chúng ta được bước vào trong Thiên-đàng vinh hiển với Ngài.
Bởi cớ đó, trời và đất đã trở nên tối tăm vào giờ mà Chúa chuộc tội cho nhân loại và Ngài đã kêu lên trên thập tự giá rằng: “Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Kinh Thánh Mathiơ 27:46).
Chúa Jêsus đã bị Đức Chúa Trời lìa bỏ để chúng ta có thể được Đức Chúa Trời tiếp nhận – Ngài đã gánh thay mọi tội lỗi cho bạn, để bạn có thể nhận được sự tha thứ và sự sống đời đời của Đức Chúa Trời.
Tội lỗi và hình phạt là hai vấn đề không thể tách rời nhau, thậm chí những tòa án bất toàn của loài người còn biết tới chuyện đó, huống chi là Đấng Tạo Hóa thánh – thiện trọn vẹn. Nhưng thay vì giáng hình phạt lên thế gian phạm tội, Đức Chúa Trời đã trút tất cả những hình phạt ấy lên người Con yêu dấu của Ngài trên cây thập tự …
Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, Ngài đã ban Con một của Ngài để gánh thay tội lỗi của chúng ta.
Đó là cách mà Đức Chúa Trời đã làm để cứu bạn ra khỏi tội.
Bạn cần phải làm gì để nhận được sự cứu rỗi đó?
Kinh Thánh không bao giờ kêu gọi chúng ta phải làm lành lánh dữ để được cứu rỗi. Ngược lại, lời Chúa chép rằng “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rôma 3:23). Cho nên không có một việc làm nào của chúng ta là hoàn toàn lành cả, thảy đều dính dấp với tội lỗi. Cũng giống như một giọt mực chỉ nhỏ vào mặt ly nước, nhưng nó làm cho cả ly nước đều bị nhiễm mực. Chỉ có một điều là mức độ tội lỗi trong những việc chúng ta làm không hoàn toàn giống nhau: người thì đã quen làm những việc gian ác, kẻ thì chỉ mới lỡ làm một việc tệ hại, người thì nuôi những ý tưởng đen tối trong lòng,.. Nhưng bạn có biết rằng phạm tội trong tư tưởng cũng giống như phạm tội trong hành động không? Chỉ có điều là nó chưa có cơ hội thuận tiện để thực hiện, thế thôi! …
Do đó, xin bạn đừng vội cho rằng mình phạm tội ít hơn những người khác, vì tội lỗi bề trong quan trọng hơn tội lỗi bề ngoài. Một người có thể vì bị hoàn cảnh ép buộc mà phải phạm nhiều tội tỏ tường, trong khi bạn được hoàn cảnh che chở lại nghĩ rằng mình vẫn tốt hơn nhiều người khác. Thưa bạn, Đức Chúa Trời nhìn thấy bề trong, Ngài nhìn thấy những nơi bí mật của tấm lòng và Ngài không xét đoán theo bề ngoài như loài người chúng ta…
Nhưng Kinh Thánh đã chép rằng: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).
Điều đó có nghĩa là khi Chúa Jêsus đã làm xong sự cứu chuộc cho bạn thì bạn không cần phải làm một việc nào cả, nhưng bạn cần phải tin tất cả những gì mà Chúa đã làm cho bạn, thì bạn sẽ được cứu. Đây là một điều thật đơn giản, nhưng nó có ý nghĩa gì?
1.   Trước nhứt, bạn cần phải nhìn nhận rằng mình đã phạm nhiều lầm lỗi trong cuộc đời, từ hành động cho tới ý tưởng và bằng lòng ăn năn về mọi tội lỗi đó.
2.   Thứ hai, bạn cần tin rằng Chúa Jêsus đã gánh thay mọi tội lỗi và chịu mọi hình phạt thế cho bạn trên cây thập tự. Nhờ đó, Ngài có thể tha thứ mọi tội lỗi mà bạn đã phạm và ban cho bạn một đời sống mới ngay khi bạn đến với Ngài.
3.   Thứ ba, bạn cần phải mời Chúa bước vào lòng mình để đổi mới cuộc đời bạn và dẫn dắt bạn bước đi trong những ngày sắp tới.
4.   Thứ tư, bạn cần phải chịu lễ rửa tội trước sự hiện diện của Chúa bằng cách dìm mình trong nước hoàn toàn rồi sau đó trồi lên khỏi mặt nước. Đây là một nghi lễ đơn giản mà Chúa đã truyền lại cho chúng ta, nhưng nó bao hàm cả ba bước mà chúng ta đã nói đến ở trên: Khi dìm mình trong nước có nghĩa là bạn thừa nhận rằng mình đã đồng chết với Chúa về những tội lỗi và cuộc đời xưa cũ – Cũng vậy, khi trồi lên khỏi mặt nước là bạn thừa nhận rằng mình đã bắt đầu sống lại với Chúa trong một cuộc đời mới …
Khi ấy, cuộc đời bạn đã có Chúa hiện diện, Ngài sẽ cùng đi với bạn trong suốt cuộc đời nầy, tha thứ mọi lỗi lầm bạn lỡ phạm khi bạn ăn năn, cho đến khi bạn nhận được sự sống đời đời trên Thiên Đàng cách trọn vẹn.
Thưa bạn, bốn bước đó được tóm gọn trong một chữ tin mà Kinh Thánh đã nói tới. Nếu bạn tin thật lòng thì đức tin ấy phải dẫn tới hành động và nhờ hành động theo lời Chúa dạy mà đức tin được đầy trọn.
Sau khi chịu thương khó để chuộc tội cho nhân loại, ba ngày sau Chúa đã sống lại để có thể thực hiện mọi lời hứa của Ngài cho chúng ta. Ngày nay, có nhiều người được nghỉ ngơi vào ngày Chúa nhật mỗi tuần mà không biết rằng ấy là ngày kỷ niệm Chúa sống lại. Vì ngày thứ bảy là ngày cuối tuần và Chúa đã sống lại vào ngày đầu tuần cho nên ngày ấy được gọi là ngày Chúa nhật – tức là ngày của Chúa. Có một số người lại gọi là ngày Chủ nhật, nhưng ý nghĩa của nó vẫn không thay đổi, vì Ngài là Chúa và hiện đang làm Chủ tể của vũ trụ mà Ngài đã dựng nên.
Điều quan trọng nhứt trong quyển sách nầy là gì?          
Khi bạn đọc được quyển sách nhỏ nầy, ấy là lời kêu gọi của Chúa đã đến với bạn. Bạn có tin rằng Chúa vẫn hằng ngày trông chờ bạn được nghe tiếng của Ngài và đón nhận lấy ơn cứu rỗi của Ngài, không? Giờ đây, tặng phẩm của sự sống đời đời đã được trao đến tay bạn, nhưng nó vẫn chưa thuộc về bạn cho đến khi nào bạn đưa tay ra để nhận lấy.
Hãy nhận lấy ngay ngày hôm nay, vì Chúa trông chờ bạn đã lâu. Ngài đã lìa bỏ Thiên Đàng để xuống tận thế gian và đã chịu lấy bao hình phạt nhục nhã chỉ cốt để đem đến cho bạn một đời sống bình an, vui vẻ, thỏa nguyện … trong ơn cứu rỗi của Ngài. Kinh Thánh chép lời Chúa nói với bạn rằng:
 “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy”(Khải huyền 3:20).
Chỉ có bạn mới mở được cánh cửa lòng của mình và Chúa vẫn còn đang đứng chờ cho đến khi nào bạn mở ra và mời Ngài bước vào.
Ngày trước, khi chưa đến với Chúa, tôi cũng đã nhiều lần được nghe giãi bày về Tin Lành cứu rỗi như bạn được nghe ngày hôm nay và người hết lòng giúp đỡ tôi là một bà cụ 82 tuổi. Mặc dù tuổi đã cao, nhưng bà vẫn còn rất sáng suốt và đã nhiều lần chữa lành lập tức cho một số con cái Chúa trong Hội Thánh chỉ bằng sự cầu nguyện. Lần cuối, khi từ giã bà, tôi nói: “Thôi, được rồi, năm nay con 18 tuổi, đến năm 25 tuổi con sẽ có một vợ và hai con. Đến chừng ấy con sẽ tin Chúa và dẫn vợ con mình cùng tin Chúa cho vui vẻ”. Nhưng bà cụ đã điềm đạm hỏi một câu mà không bao giờ tôi quên được, đó là: “Nhưng cậu có biết khi nào cậu qua đời không?”. Tôi bàng hoàng, thảng thốt. Phải, không bao giờ tôi nghĩ đến điều ấy. Tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ qua đời khi đầu râu, tóc bạc; nhưng sự thực là không ai có thể biết được mình sẽ chết khi nào …
Chỉ độ ba ngày sau, tôi đã thoát khỏi một tai nạn thảm khốc mà không bao giờ mình có thể hình dung ra. Khi đang đạp xe trên xa lộ với tốc độ cao và ngoái cổ nhìn lại phía sau một hồi, tôi không ngờ rằng mình bị lệch hướng và có một chiếc xe đò đi ngược chiều đang lao thẳng vào mình. Khi thình lình quay lại, tôi thấy mình đang lao vào giữa đầu chiếc xe đò và chỉ còn cách khoảng 10 m. Nhưng khi đối diện với cái chết, tôi bỗng thấy mình được sáng suốt và bình tĩnh cách phi thường nên đã lạng vòng chiếc xe và trượt khỏi mũi chiếc xe đò chỉ trong gang tấc – đến nỗi tôi nghe được những tiếng phụ-nữ la thất thanh trên xe đò và trái mít tôi đang chở ngoài sau phải rớt xuống mặt đường. Những người thân cùng đi với tôi đều xanh mặt khi chứng kiến cảnh đó vì họ cứ tưởng rằng tôi đã không thoát khỏi thảm họa khủng khiếp. Nhưng khi nhớ lại những lời mà bà cụ nói với mình, tôi hiểu rằng thời gian thuận tiện nhất để mình đến với Chúa là ngay bây giờ.
Kinh Thánh chép rằng: “Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi” (II Côrinhtô 6:2).
Phải, Chúa đang chờ đợi chúng ta và mong ước được bước vào lòng chúng ta ngay bây giờ nếu chúng ta thành thật mời Ngài.
Lời nhắn gửi
Chúng tôi cảm ơn bạn vì đã dành thì giờ để đọc quyển sách nhỏ nầy. Tất cả những gì chúng tôi muốn nói là Đấng Tạo Hóa đã yêu thương bạn đến nỗi bằng lòng chết thay cho bạn để đem đến cho bạn sự cứu rỗi ngay trong đời nầy và đời sau nữa.
Nếu lòng bạn muốn nhận được sự cứu rỗi đó, hãy liên lạc với bất cứ một nhà thờ Tin-lành hay một người theo đạo Tin-lành nào ở gần nhà bạn. Chúng tôi sẽ giúp đỡ bạn những bước đi đầu tiên – tuy đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa nầy, để bạn có thể đến với Chúa.
Xin đừng chần chừ vì thời gian không chờ đợi chúng ta. Bạn biết rằng cứ mỗi năm trôi qua thì có khoảng 30.000 người Mỹ chết vì tai nạn giao thông. Những người ấy không bao giờ biết rằng đó là lần đi đường cuối cùng của đời mình. Họ cứ nghĩ rằng mình sẽ đến được nơi mà mình muốn đi, nhưng họ đã không bao giờ đến được nơi ấy … Chúng ta cũng vậy, vì tương lai không nằm trong tay chúng ta giữa một thế giới luôn biến động và những tai nạn vẫn thường rình rập chúng ta mỗi ngày trên đường phố … Cho nên, hãy nắm lấy cơ hội của ngày hôm nay để nhận được sự cứu rỗi đời đời mà không một hãng bảo hiểm nào có thể mang đến cho bạn …
Nếu lòng bạn chưa thể quyết định cách rõ ràng qua những gì chúng tôi nói thì xin bạn hãy quì gối xuống cách chân thành và nói cùng Chúa rằng: “Lạy Chúa, xin bày tỏ cho con biết rằng có Chúa thật hay không?” Chính Chúa sẽ giải tỏa nỗi hoài nghi của bạn vì Ngài là Đấng nghe thấu mọi lời cầu nguyện trong nơi sâu kín của lòng.
Hẹn gặp lại bạn trong Hội Thánh của Chúa Cứu Thế ở khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi luôn cầu nguyện cho bạn. A-men.

Xin bạn cũng vui lòng gửi bài viết nầy đến cho bất cứ một người nào khác, để họ có thể nhận được ơn cứu-rỗi và sự sống đời đời.
Cầu xin Chúa ban phước cho bạn và gia-đình! A-men.
Saigon, Việt-Nam
Trần Minh-Mẫn


Đọc Tiếp ...

ĐÊM HUYỀN DIỆU

ĐÊM HUYỀN DIỆU 

Kết quả hình ảnh cho giáng sinh

Đêm huyền diệu – Đêm Giê-su giáng thế!
Đêm con Trời thành nhục thể năm xưa
Đêm Bê-lem Thượng Đế thành lời hứa
Đêm lịch sử mùa đông tôi nhớ mãi.
Đêm huyền diệu – Soi đường nhà Thông thái!
Đêm bầu trời rạng chiếu một vì sao
Đêm bác sĩ đã vượt bao đồi núi
Đêm vui mừng một Ấu Chúa hạ sinh.
Đêm huyền diệu – Đêm tâm linh cung kính!
Đêm lộ trình thờ lạy Vua hiển vinh
Đêm hạnh phúc yên bình cho nhân loại
Đêm thiên đàng đóng trại giữa nhân gian.
Đêm huyền diệu – Đêm Thánh Chúa huy hoàng!
Đêm mục tử ngỡ ngàng nghe Thiên sứ
Đêm bình hòa xua hãi sợ bọn chăn
Đêm hạnh ngộ sang hèn nơi máng cỏ.
Đêm huyền diệu – Đêm ngàn xưa còn đó!
Đêm Tin Lành loan báo một tin vui
Đêm tình yêu Thiên Chúa chẳng chối từ
Đêm trọn vẹn cứu người trong tội lỗi.
Đêm huyền diệu – Đêm yêu thương vô đối!
Đêm Tin mừng cơ hội đến tội nhân
Đêm hôm nay thiên đàng ngân tiếng hát
Đêm trên trời hoan lạc khúc Thần ca.
Đêm huyền diệu – Đêm Giê-su giáng hạ!
Đêm khải hoàn vang mãi đến ngàn sau
Đêm nhân loại được Cha Ngài thương xót
Đêm thứ tha ân điển Chúa dạt dào.
Đêm huyền diệu – Đêm ngàn sao lấp lánh!
Đêm tuyệt vời con Thánh xuống phàm nhân 
Đêm Giê-su phong trần đang gõ cửa:
Đêm cơ hội để bạn thưa con mở
Đêm huyền diệu – Lòng ai đang tan vỡ?
Đêm mảnh đời cơ nhở tiếp Thiên ngai
Đêm gọi mời tao ngộ bạn cùng tôi
Đêm trở về phục hồi con yêu dấu!
Đêm huyền diệu – Nối nhịp cầu thập giá!
Đêm con Trời vui giáng hạ trần gian
Đêm lịch sử huy hoàng ta cảm tạ
Đêm muôn đời hạnh phúc quá người ơi!
Đêm huyền diệu – Đêm tuyệt vời bạn hỡi!
Đêm loài người hưởng hạnh phước nơi nơi
Đêm ngôn từ không đủ lời tán mỹ
Đêm diệu kỳ tụng ngợi Đấng kỳ hy.
Đêm huyền diệu – Ta cảm tác ca thi!
Đêm sâu lắng lòng nhu mì cung hiến
Đêm máng cỏ gối quỳ Cha ngự trị
Đêm tâm hồn Chân lý Chúa sáng soi.
Đêm huyền diệu – Đêm tan xóa u hoài!
Đêm mở lòng Thống Soái Chúa bước vô
Đêm hôm nay như tất cả đêm nào
Đêm thành thơ đón chào ơn cứu rỗi.
Đêm huyền diệu – Đêm cho người ô tội!
Đêm quay về nguồn cội Đấng yêu thương
Đêm tình yêu dành cho kẻ lạc đường
Đêm quay gót bạn dễ thường chối bỏ?
Đêm huyền diệu – Đêm giáng sinh quán trọ!
Đêm cõi lòng bày tỏ với tha nhân
Đêm dư âm còn vọng mãi xa gần
Đêm phước hạnh tình thương Ngài dâu bể.
Đêm huyền diệu – Đêm muôn nghìn thế hệ!
Đêm nguyện cầu Thượng Đế hãy đoái thương
Đêm dân tộc lầm đường mau trở lại
Đêm Việt Nam tình thương Ngài dành sẵn.
Đêm huyền diệu – Đêm Thiên Chúa vĩnh hằng!
Đêm thanh bình thay thù hận chiến tranh
Đêm để bạn nối thành vòng tay lớn
Đêm tâm hồn Tôi... Bạn đón Chúa đây…

Hồ Thi Thơ – Hồ Galilê - Giáng Sinh 2019.
Đọc Tiếp ...

Những Bài Viết Liên Quan

CNTTLS...