Tìm kiếm Blog này


Câu Gốc

Unordered List

Trở Thành Nguồn Phước. Lời Kinh Thánh: Vả, Đức Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. (Sáng thế ký 12:1-3)

Blockquote

JOHN WESLEY (1703-1791) - CHARLES WESLEY (1707-1788)


                          

John Wesley và Charles Wesley là hai anh em ruột, cùng là giáo sĩ rao giảng Phúc âm đầy quyền năng, là nhà sáng lập Hội Thánh Giám Lý (Methodists). John Wesley là nhà truyền giảng Phúc âm, còn Charles Wesley là một ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng, ông có một giọng hát rất đặc biệt, ông còn sáng tác rất nhiều bài Thánh ca hầu hết được Hội thánh chung yêu thích. Cả John và Charles đã góp phần xây dựng và đưa Hội thánh Giám lý phát triển không chỉ tại Anh quốc mà còn trên cả thế giới. 


John và Charles sinh ra ở Epworth, vùng Lincolnshire, miền Bắc nước Anh. John sinh năm 1703, Charles sinh năm 1704. Cha của họ, ông Samuel Wesley là vị một Mục sư rất chú trọng đời sống thuộc linh. Mẹ của họ, bà Susanna là một người nữ tài đức, gương mẫu, chính bà đã tạo ảnh hưởng thuộc linh trên các con mình. Hai ông bà Samuel và Susanna Wesley có 19 người con nhưng 8 người đã qua đời lúc nhỏ. Tấm gương hầu việc Chúa của hai ông bà đã thôi thúc cả John và Charles trong sự hầu việc Chúa về sau. 
Lúc nhỏ John học ở trường Charlerhouse tại Luân Đôn, về sau học tại trường Hội Thánh Đấng Christ và sau đó là Đại học Oxford. Đời sống tin kính của John đặc biệt chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm “Học theo gương Chúa Jesus” của Thomas ở Kempis. Ông tốt nghiệp Đại học Christchurch, Oxford năm 1724. Được phong chức Mục sư năm 1728, ông là hội viên và giảng viên trường Đại học Lincoln College ở Oxford. Cùng lúc đó ông tham gia Đoàn Sinh Viên Học Sinh Tin Lành ở vùng Oxford, từ đây ông quyết tâm sống một cuộc đời thánh khiết, dâng mình trọn vẹn cho Chúa. 
Còn Charles tham gia Giáo hội Đấng Christ năm 1726. Năm 1729 ông vào đại học Oxford và cũng trong năm này ông gia nhập “Hội đoàn các thánh”, tổ chức các buổi nhóm thờ phượng, học Kinh thánh. Lúc John Wesley lãnh đạo nhóm người này, Charles là người tiên phong hướng dẫn học Kinh thánh chuyên sâu theo phương pháp của George Whiterfield. Nhóm sinh viên này ban đầu có 25 người gọi là “Methodists” (nghĩa là những người có phương pháp). Tên Methodists bắt đầu từ đó. John Wesley dành nhiều thời gian để học Kinh thánh bằng tiếng Hi lạp, thường kiêng ăn, cầu nguyện, suy niệm, thăm viếng, chứng đạo, thăm xóm lao động nghèo, trại tù ... để giảng Tin lành. 

Năm 1735, John và Charles đến Georgia, Bắc Mỹ để đảm nhận một sứ mạng của Hội Truyền Giảng Phúc Âm. Anh em Wesley đã gặp một số Cơ đốc nhân phái Moravian và đã nhận được sự giúp đỡ thuộc linh, kinh nghiệm đời sống Cơ đốc đầy dẫy Thánh Linh. Trở về Anh quốc, John và Charles càng được khích lệ hơn để đầu phục và dâng hiến chính mình trọn vẹn cho Chúa, cả hai anh em được sự đổ đầy của Thánh Linh, có khải tượng và bắt đầu rao giảng Phúc âm cứu rỗi, công bố Tin Mừng cho toàn thể dân chúng tại Anh. Bắt đầu từ Nhà thờ, Trường học, Chợ, khu dân cư ... hai anh em Wesley đã giảng Tin lành và kết quả là hàng hàng, lớp lớp người kéo đến nghe giảng và tin Chúa.

Trải qua 20 năm Hội thánh Giám l‎ý đã phát triển vượt bậc. John Wesley là một sứ giả phục hưng, Đức Chúa Trời ban cho ông tài hùng biện, ơn giảng giải Kinh thánh rất uyên bác, lời nói tràn đầy ân sủng của Thánh Linh. Tại buổi nhóm đầu năm 1739 ở Luân đôn, John Wesley cùng 60 giáo hữu kể cả Anh giáo và phái Moravian đã nhận được quyền phép từ trên cao, họ đã đem cơn bừng tỉnh tâm linh cho hàng lớp giáo dân đang nguội lạnh lúc đó. Còn Charles là một ca sĩ và là một người viết Thánh ca đầy ơn ... Rất nhiều bài hát do ông sáng tác được cả thế giới Cơ đốc sử dụng ví dụ: Hỡi Thánh Vương kíp ngự lai (Thánh Ca số 1), Tôn vinh Chúa Linh năng (TC 17), Kìa Thiên binh cùng nhau trổi hát (TC 53), Ngày nay Chúa phục sanh phước bấy (Tc 104), Halêlugia Chúa tái lâm (TC 120), Tâm Linh ơi vùng lên này (TC 185), Nguyện Tình Yêu Thượng Giới Giáng lâm ngay (TC 224), Jesus Đấng hằng yêu thương tôi (TC 252) ...
 
Việc hát Thánh ca đã góp phần đáng kể trong phong trào phục hưng Hội thánh. Thánh ca chuyển tải sứ điệp và tạo hiệu quả lớn lao chẳng thua bài giảng. Thánh ca giúp tín hữu phấn khởi, vui mừng, đầy dẫy Thánh Linh và nhận được các lẽ thật quí báu. John Wesley đã gọi quyển Thánh Ca mà Hội Giám Lý xuất bản năm 1780 là "một bộ phận cơ thể nhỏ bé của quyền năng có tính chất thực tiễn và từng trải thiêng liêng". Charles Wesley là một soạn giả Thánh ca vĩ đại, ông đã sáng tác 7000 bài Thánh ca, bài thơ, biệt lễ ca ... có rất nhiều ca khúc là tuyệt tác văn chương và trở nên bất hủ, được đông đảo công chúng hâm mộ, như bài: "Giê-xu, lover of my soul" (Jesus Đấng hằng thương yêu tôi). Bài Thánh ca này từng được Charles H. Spugeon và D. L. Moody sử dụng trong các cuộc truyền giảng lớn.
 
John Wesley cũng là một văn sĩ Cơ đốc có tài, ông đã viết nhiều sách báo, bài giảng, chứng đạo đơn. Tờ Nhật báo của John Wesley chủ trương là một sách giáo khoa bao gồm những bài giảng súc tích có tính mặc khải. Ông cũng là chủ bút của tờ “The Christian Library” chuyên cung cấp kiến thức Thần học, suy gẫm, bồi linh ... cho độc giả mọi giới. Ông còn đi đầu trong việc xuất bản một tạp chí ra hàng tháng, John đã để lại một bộ sách gồm 32 quyển bài giảng của chính ông. Năm 1789, Bản Tuyên ngôn của Hội Giám lý được soạn thảo dưới sự hướng dẫn John Wesley và 100 vị Trưởng lão.
 
Hai anh em nhà Wesley chuyên lo truyền giảng Tin lành. Những đề tài quan trọng mà hai người thường nhấn mạnh là: Tiếp nhận Đức Chúa Trời, kính yêu Đức Chúa Trời, đời sống thánh khiết, yêu mến tha nhân, sốt sắng đem Tin lành cho tội nhân ... Sứ điệp Tin lành do John và Charles truyền giảng đã được Đức Chúa Trời dùng để cảm động hàng chục ngàn tội nhân tin nhận Chúa, mỗi buổi giảng thường có từ năm đến mười ngàn người đến tham dự. Hội thánh Giám lý (Methodists) gia tăng mỗi ngày. Năm 1790, Hội thánh Giám lý tại Anh có 71.668 tín hữu. John Wesley thường dùng ngựa để di chuyển trong khi rao giảng, trung bình mỗi tuần ông đi 500 dặm và giảng 15 bài. Dù tuổi tác càng cao nhưng John vẫn luôn đi đến bất cứ nơi nào công chúng cần và ông luôn nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt.
 
Trong bài giảng nổi tiếng của John Wesley với đề tài: “Sự yêu thương của Đức Chúa Trời tỏ ra cho loài người sa ngã” (Rôma 5: 15), ông đã nhấn mạnh đời sống thánh khiết nhờ tiếp nhận và sống trong ơn yêu thương của Đức Chúa Trời, chính đời sống thánh khiết là nguồn gốc mọi phước hạnh thuộc linh và thuộc thể, là chìa khóa mở ra sự sống đời đời.
 
John Wesley và Charles Wesley đã xây dựng Hội thánh Giám lý phát triển rộng khắp trên cả Anh quốc, đào tạo 300 giáo sĩ hải ngoại, 1000 Mục sư Truyền đạo và 120.000 tín hữu. Trong vòng 53 năm hầu việc Chúa, John Wesley đã đi 400.000 km và giảng 40.000 bài giảng mà chẳng bao giờ lỗi hẹn. Hàng triệu thuộc viên Giám lý Hội ngày nay là bằng chứng sống cho thành quả, công lao của hai anh em ông. Các sử gia đã đồng ý rằng Wesley đã có công cứu Anh quốc khỏi phải trải qua những cuộc khủng hoảng rùng rợn như Cách Mạng Pháp (1789).
 
John Wesley qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1791, thọ 88 tuổi. Charles Wesley qua đời trước đó ba năm (1788). Hai ông đã để lại một hệ phái theo giáo lý Cải chánh có đông đảo tín hữu hơn bất cứ Giáo hội Cơ đốc nào khác ở Anh quốc. Ảnh hưởng của cả John Wesley và Charles Wesley tại Anh quốc nói riêng và Hội thánh toàn cầu nói chung là rất lớn không chỉ ở tấm gương truyền giáo, đời sống thánh khiết mà còn ở vô số bài giảng nổi tiếng, vô số Thánh ca bất hủ ... tinh thần tận tụy hầu việc Chúa của hai ông luôn là bài học và là niềm cổ vũ lớn lao cho toàn thể con dân Chúa, đặc biệt là những người hầu việc Chúa hôm nay.
 
March, 2011
Theodore
Đọc Tiếp ...

Uống rượu bia, có gì sai?


Uống rượu bia, có gì sai?

       Uống bia rượu thì có gì sai nhỉ? Có bạn đã hỏi tôi như thế đấy. Mà thật nghe cũng có lý lắm, vì bia thì giúp cho tiêu hóa, giúp ăn ngon ngủ tốt (uống càng nhiều càng dễ ngủ đấy), rượu vang đỏ giúp hỗ trợ cho tim (nhưng uống quá liều dễ "đi" sớm), rồi rượu ngâm thuốc trị bách bệnh (kể cả các căn bệnh khó nói của quý ông, nhưng thường thì hiệu quả chẳng thấy đâu chỉ thấy tiền mất tật mang). Ấy là chưa kể công dụng quan trọng của bia rượu là giúp tạo tình thân, tăng lương, lên chức và kí được hợp đồng nữa đấy. Nghe có vẻ bia rượu là một phần không thể thiếu của cuộc sống phải không các bạn.


      Chúng ta thấy "công dụng" của bia rượu, bây giờ hãy xem qua các "vô dụng" của nó nào.
       + Hãy chú ý ngoại hình của người ghiền bia rượu: bụng to (dân gian gọi là bụng bia), quần áo xộc xệch, mình mẩy đầy thẹo (vì thường nằm đo đường hoặc "tình thân mến thương" với bạn nhậu), mặt đỏ gay, mắt lờ đờ, giọng nói lè nhè, bước chân xiêu vẹo (còn đâu bước chân nam nhi hiên ngang), hơi thở "thơm tho" (thơm cỡ nào thì ai cũng biết), thường cho "chó ăn chè thập cẩm", cái mũi thường hếch lên (lý do là mỗi lần nghe mùi bia thì hếch lên để ngửi).
       + Những nguy hiểm liên quan đến phạm trù đạo đức: Dễ vô nhầm nhà vợ của hàng xóm gây tan cửa nát nhà (một ví dụ vui, nhưng những người ghiền bia rượu dễ sa ngã vào vấn đề tình dục do thiếu kiểm soát), dễ gây phá sản và viêm màng túi (điều này cũng dễ hiểu, hậu quả sau đó là đồ đạc trong nhà dễ đội nón ra đi), dễ gây sự và sinh chuyện, dễ gây tai nạn cho bản thân và người khác, dễ mất tư cách (hãy so sánh một anh chàng mặc đồ vest lịch sự vào buổi sáng với anh ta vào lúc nhậu xỉn lúc khuya sẽ thấy), dễ chửi vợ đánh con...
       + Những phạm trù liên quan đến sức khỏe: dễ mắc chứng bia trong máu (nói nôm na như bác sĩ của tuổi trẻ cười là "chúng tôi tìm thấy ít máu trong số lượng bia lưu thông trong người anh") dễ hiểu hơn là ghiền bia rượu, suy gan suy thận (tiền thân của chứng "bất lực" khiến quý ông "tàn sát" các loài động vật khắp thế giới), loét bao tử (còn có thể uống thuốc điều trị được, nhưng kéo dài sẽ dẫn tới xuất huyết bao tử và ung thư bao tử), suy giảm trí nhớ (có thể thức dậy trong bệnh viện với máu me đầy người mà không hiểu tại sao),...
       + Hãy xem Kinh Thánh nói gì về rượu bia: Nô-ê một người công bình khi say rượu đã trần truồng mà ngủ giữa trại mình (Sáng 9:21); Lót vì say rượu mà loạn luân cùng hai con gái ruột (Sáng 19:32,33), Y-sác đã bị Gia-cốp phục rượu trước khi lừa gạt để nhận lời chúc phước (Sáng 27:25); Bản thân Gia-cốp cũng vì say mà phải lấy Lê-a làm vợ (Sáng 29:22-25); người Na-xi-rê-người được biệt riêng cho Chúa thì không được uống rượu (Dân 6:3; bạn có phải là người được biệt riêng cho Chúa không?); Thời Các quan xét, người ta thường xuyên say xỉn nhiều đến nỗi Hê-li tưởng An-ne đang say dù bà đang cầu nguyện (I Sam 1:14,15); Hãy xem thêm các câu Kinh Thánh khác nữa (Châm ngôn 20:1; 21:17; 23:20-21; 23:30-31...)

      Nhìn chung, một bản kê khai lí lịch trích ngang của bia rượu chúng ta thấy rõ ràng "lợi thì có lợi e răng không còn" (có thể hiểu theo nghĩa đen). Nhưng vấn đề ở chỗ chúng ta vì vài điều lợi tạm thời trong cuộc sống mà phải đánh đổi cả sức khỏe, hạnh phúc của bản thân và những người xung quanh thì thật đáng tiếc. Tôi nghe có bạn nói bản lĩnh của đàn ông là phải biết uống rượu bia, nhưng có lẽ phải nói bản lĩnh thật của đàn ông là dám nói không với rượu bia kìa. Nhiều con cái Chúa cố gắng biện minh cho việc mình uống bia rượu khi đưa ra những lý do đại loại như "Chúa Giê-xu hóa nước thành rượu", Phao-lô khuyên Ti-mô-thê uống rượu trị bệnh,...nhưng xin thưa chẳng chỗ nào trong Kinh Thánh khuyên con cái Chúa nêu uống bia rượu, nhưng trái lại lời quở trách tác hại của rượu bia thì nhiều vô kể: "Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng" (Ê-phê-sô 5:18); "Ngày trước cũng đã đủ làm theo ý muốn người ngoại đạo rồi, mà ăn ở theo tà tịch, tư dục, say rượu, ăn uống quá độ, chơi bời, và thờ hình tượng đáng gớm ghiếc" (I Phi 4:3); "Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa" (Luca 21:34); "Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét" (Rô-ma 13:13)...

       Nói như một bạn đã đề cập về ba nguyên tắc sống cơ đốc " Mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng để sự gì bắt phục được tôi. Mọi sự đều có phép làm...nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt" (I Cô 6:12;10:23). Uống rượu lợi thì ít mà hại thì nhiều, lại dễ bị bắt phục (Vì ghiền rượu và lệ thuộc vào nó), lại không làm gương tốt cho các con cái Chúa và người ngoại. Vậy thì dù chúng ta có uống được nó đi chăng nữa, dù nó chẳng ảnh hưởng gì đến sự cứu rỗi của chúng ta nhưng sao chúng ta không dứt khoát từ bỏ nó đế có thể sống và làm vinh hiển danh Chúa ở giữa đời này càng hơn.

Nguồn: cdnvn.com
Đọc Tiếp ...

Những Đóa Hoa Tươi cho Tâm Hồn


Những Đóa Hoa Tươi cho Tâm Hồn

1  
Thử thách là mảnh đất cho đức tin tăng trưởng.  Trials are the soil in which faith grows.  (Our Daily Bread)
2
Lo lắng không cất đi những rối ren ngày mai, nó cất đi sự bình an ngày nay. Worrying   does not take away tomorrow's troubles, it takes away today's peace.
(Vô danh)
 3
Đức Chúa Trời xem việc yên nghỉ là quan trọng, cho nên Ngài đã lắp đặt sự yên nghỉ vào trong nhịp sống. Thiếu nghỉ ngơi, chúng ta không thể nhìn rõ; chúng ta bắt đầu thấy bản thân mình quan trọng hơn bản chất thật của chúng ta.
God considers rest so important that He built it into the rhythm of life. Without rest we can't see clearly; we begin to see ourselves as more important than we are. 
4
Lời nói như nước, chuyên tải được thuyền mà cũng làm lật thuyền.
语言如水,能舟亦能覆舟
Ngữ ngôn như thủy, năng tái chu diệc năng phúc chu
5
Đến tuổi già, họ vẫn còn sinh bông trái, thịnh vượng và xanh tươi.
(Thi-Thiên 92:14)
6
Khi còn đi làm, chúng ta phải tập yêu thích việc mình đang làm, chừng về hưu, chúng ta có thể làm những việc mình thích.
7
Phương thuốc chữa bệnh ganh tị là lòng biết ơn Thiên Chúa.  The remedy for jealousy is thankfulness to God. (ODB)
8
Khi chúng ta thương yêu và nhân từ đối với người khác, không những người khác cảm thấy được yêu và được quan tâm mà còn phát triển sự an lạc nội tâm cho riêng mình.
When we feel love and kindness toward others, it not only makes others feel loved and cared for, but it helps us also to develop inner happiness and peace.  (Dalai Lama)
9
Đời sống hầu hết là bọt bèo, bong bóng;  2 điều đứng vững như đá:  sự ân cần về hoạn nạn của người và lòng can đảm của mình. 
Life is mostly froth and bubble; Two things stand like stone: Kindness in another's trouble, Courage in your own.  Adam Lindsay Gordon (1833-1870).
10
Tôi tin chắc rằng không có gì bền bĩ được xây dựng trên bạo lực.  Cách an toàn duy nhất để thắng kẻ thù là biến anh ta thành bạn. (It is my conviction that nothing enduring can be built on violence.  The only safe way to overcome an enemy is to make of that enemy a friend). 
—Mahatma Gandhi (1869-1948)
 11
Khi chúng ta tỉnh thức từng giây phút thì quá khứ nhẹ nhàng cuốn lên và tương lai từ từ sáng tỏ.
When we are present in each moment, the past gently rolls up behind us and the future slowly unravels before us.
– Rev.  Richard Levy
12
Đặt sự bình an tâm hồn là mục đích cao nhất, và tổ chức cuộc đời bạn quanh đó.
Set peace of mind as your highest goal, and organize your life around it. -Brian Tracy
13
Đời sống là một đồng tiền.  Bạn tiêu xài thế nào tùy ý nhưng chỉ một lần mà thôi.  (Life is a coin.   You can spend it any way you wish, but you can only spend it once.)
14
Tình bạn như quyển sách.  Có thể đốt cháy trong giây phút, nhưng tốn hằng nhiều năm để viết.  (Friendship is like a book.  It takes few seconds to burn, but it takes years to write.) 

Đọc Tiếp ...

God's Love Letter to YOU


Scripture: "Behold, I have engraved you on the palms of My hands." Isaiah 49:16

Just How Much God Loves You

If you're anything like me (or most everyone else I know), you have no idea how much God loves you. He died for you, sacrificed His only Son, and would do it all over again. But even if you've heard it once, you need to hear it again. So if God wrote you a love letter, here's what it might sound like…

Love Letter

Dear Child of Mine,

I saw you before you were born, and I destined you for a great purpose (Jeremiah 1:5). While your mom was pregnant with you, I personally designed you with incredible detail and precision (Psalm 139:13,14). From the get-go, I planned so many amazing things for you, you could never even count them if you tried (Psalm 40:5).

But I knew in advance that you would go astray and forget me, so I asked My perfect Son Jesus to take your punishment Himself (Isaiah 53:5). He was willing to be humiliated and murdered so that you could be eternally healed (Isaiah 53:5). He loved you so much that He came down to earth to show you what I'm really like (John 14:7).

When you first believed in Me, I immediately accepted you into My own family (John 1:12). I forgave all your sins through My Son Jesus (1 John 2:12). And now Jesus is in Heaven with Me, preparing a place for you (John 14:2). In fact, I am living inside of you because You believe in My Son (I John 4:15).

I am forever committed to you; there is no circumstance under which I will leave you or take my love away from you (Hebrews 13:5; Romans 8:38). Even when you go through the hardest trials, I will be with you and carry you through them (Isaiah 43:2). In fact, I will cause EVERYTHING to work together for your good, because you have loved me back and I have a great purpose for you (Romans 8:28).

Is there anything you need right now? Ask Me. I am your Good Father and I won't give you something bad in return (Matthew 7:11). Actually, I have My own Spirit readily available to you to help you in your weakest hour (Romans 8:26). I know you get tempted to lose faith, but even when you do, I will remain faithful to you (2 Timothy 2:13). I want you to ask Me for great things, because I want to answer you (John 16:23). Take a look up at the heavens; My love for you goes even higher than that (Psalm 108:4). Don't lose heart: I want you to know that I am coming back for you (Revelation 22:12).

And just remember: I AM LOVE (1 John 4:16). I am always patient, always kind. I'm never envious, proud or boastful. I'm not rude, and I only want the best for you. I don't get easily irritated with you or hold a grudge toward you. I am sad when you are hurt or wronged, but love when the truth prevails in your life. I will never stop being patient with you, never lose hope or give up on you. I WILL NEVER QUIT ON YOU (1 Corinthians 13:4-8).

My love for you is everlasting (Jeremiah 31:3).

Respond to God

When someone tells another person they love them, they love to hear it back in return. Will you tell God how much you love and trust Him? He longs for a beautiful and committed relationship with you for the rest of your life, until you meet Him in Heaven.
God Loves You!

1. The Bible says, "God so loved the world that He gave His one and only Son, that whoever believes in Him shall not perish, but have eternal life"

The problem is that...

2 All of us have done, said or thought things that are wrong. This is called sin, and our sins have separated us from God.
The Bible says "All have sinned and fall short of the glory of God." God is perfect and holy, and our sins separate us from God forever. The Bible says "The wages of sin is death."

The good news is that, about 2,000 years ago,

3 God sent His only Son Jesus Christ to die for our sins.
Jesus is the Son of God. He lived a sinless life and then died on the cross to pay the penalty for our sins. "God demonstrates His own love for us in that while we were yet sinners Christ died for us."

Jesus rose from the dead and now He lives in heaven with God His Father. He offers us the gift of eternal life -- of living forever with Him in heaven if we accept Him as our Lord and Savior. Jesus said "I am the way, the truth, and the life. No one comes to the Father except by Me."

God reaches out in love to you and wants you to be His child. "As many as received Him, to them He gave the right to become children of God, even to those who believe on His name." You can choose to ask Jesus Christ to forgive your sins and come in to your life as your Lord and Savior.

4 If you want to accept Christ as your Savior and turn from your sins, you can ask Him to be your Savior and Lord by praying a prayer like this:
"Lord Jesus, I believe you are the Son of God. Thank you for dying on the cross for my sins. Please forgive my sins and give me the gift of eternal life. I ask you in to my life and heart to be my Lord and Savior. I want to serve you always."
Đọc Tiếp ...

12 MÔN ĐỒ CỦA CHÚA JESUS



Cuộc sống và sự dạy dỗ của Chúa Jêsus có ảnh hưởng mạnh mẽ trên các học trò của mình. Kết quả của sự đào tạo này được nhìn thấy rõ ràng qua cuộc đời của các môn đồ Chúa. Nhìn kết cục của họ, chúng ta sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về Chúa Jêsus, vị giáo sư vĩ đại. Matt Friedeman ghi lại sự tuận đạo của các môn đồ Chúa Jêsus dựa vào những sự kiện lịch sử cũng như những truyền thuyết nói về họ như sau.


Mathiơ: giảng dạy và viết sách ở Giuđê. Sau đó ông bị giết bằng gươm tại thành phố Nadabah thuộc Êthiôpi.

Giăng: nhiều người cho rằng ông đã thành lập hội thánh tại Simiệcnơ, Bẹtgăm, Sạtđe, Laođixê, Philađenphi, Thiatirơ. Người ta đã đem ông từ Êphêsô đến Rôma và định quăng ông vào vạc dầu sôi nhưng bằng cách nào đó ông đã thoát chết và sau đó bị đày đến đảo Pátmô. Ông là vị sứ đồ duy nhất thoát khỏi cái chết bằng cách tra tấn.

Phierơ: giảng dạy ở Antiốt, Tiểu Á, và Rôma. Người ta bắt ông phải chứng kiến vợ ông bị đóng đinh và sau đó đến lượt ông bị đóng đinh. Ông yêu cầu họ đóng đinh ông với đầu hướng xuống đất vì ông không xứng đáng bị đóng đinh như cách Chúa của ông đã bị.

Giacơ, con trai Xêbêđê: có người nói rằng ông đã đem Tin lành đến Tây ban Nha và sau đó trở về, bị vua Hêrốt Agrípa I chém đầu tại Jêrusalem.

Giacơ, con Aphê: được chọn để coi sóc các hội thánh tại Giêrusalem và sau đó bị đánh đập, ném đá, và bị giết.

Philíp: một ‘viên ngọc’ của Châu Á, đã tuận đạo ở Hierapolis bằng cách bị treo cổ.

Bathêlêmy: đã đem Tin lành đến nhiều nước khác nhau và phổ biến bản dịch Tin lành Mathiơ tại Ấn độ. Ông bị bắt, bị đánh đập, bị róc da, và sau đó bị đóng đinh.

Anh rê: là một người truyền đạo đến nhiều miền đất khác nhau: Capadocia, Bithynia, Galatia, Byzantium, và Scythia. Ở Achai, Hy lạp, thành phố Patras, Anh rê đã bị đánh bằng roi, cột vào cây thập tự cho đến chết.

Thôma: đi đến Parthians, Medes, Persians, Carmanians, Hyrcanians, Bacatrians, và Magians, cuối cùng bị đâm bằng giáo ở Ấn độ.

Thađê: giảng dạy ở một số nơi và bị đóng đinh tại Edessa vào năm 72.

Simôn (Xêlốt): đem Tin lành đến Mauritania, Châu Phi, và Anh quốc. Nơi đây ông đã bị đóng đinh.

Mathia (thế cho Giuđa Íchcariốt): là một thầy giáo bị ném đá và chặt đầu tại Giêrusalem.
===

Các bạn trẻ thân mến, trong chúng ta chưa ai phải trải qua những thử thách những trả giá kinh khủng nhưng các sứ đồ ngày xưa. Dầu vậy nếu chúng ta chịu luyện tập các thử rèn từ Chúa, từ bỏ đi những thói quen xấu để sống thánh khiết, chiếu sáng cho danh của Chúa - chúng ta được hoan nghênh và làm Chúa vui lòng như đều đã chép "Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta, 2 nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời. 3 Vậy, anh em hãy nghĩ đến Đấng đã chịu sự đối nghịch của kẻ tội lỗi dường ấy, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn lòng" (Hê-bơ-rơ 12:1-3) cả thiên đàng đang cổ vũ cho chúng ta trên đường chạy này...

Cuộc sống của Cơ Đốc Nhân là một cuộc đua, chúng ta mong ước được gặp nhau ở cuối cuộc hành trình tại Thiên Quốc. Amen
Đọc Tiếp ...

KHI ĐỨC PHẬT KHÔNG TRẢ LỜI... (When Buddha did NOT reply...)

  | PDF. |
Mục sư David Yongi ChoTôi nằm chờ chết trong chiếc lều duy nhất dành cho tôi, phủ bằng tấm chăn tả tơi bẩn thỉu.

Thật là một điều dường như hoàn toàn bất công. Tôi đã làm việc khó nhọc để sống lây lất bằng một bửa ăn. Tôi đã phấn đấu vất vả để học hành, để chuẩn bị tạo lập cuộc đời. Tôi đã mơ ước xây dựng một điều gì cho riêng tôi, nhưng bây giờ tôi đang nằm để chờ chết.

Từ thuở bé, tôi đã thờ lạy Phật, nhưng bây giờ Phật chẳng ban cho tôi sự cứu giúp nào cả. Thật ra, tôi không ngạc nhiên, vì trong những năm gia đình theo Phật, chưa bao giờ tôi thấy Phật đáp ứng một lời cầu xin nào.

Gia đình tôi sống ở miền bắc Đại Hàn. Khi chiến tranh bùng nổ, chúng tôi đã mất nhà cửa cùng với những người khác. Chúng tôi lánh nạn xuống Pusan, ở miền Nam. Tiền bạc và thực phẩm vô cùng thiếu thốn. Tôi phải làm việc thật vất vả mới có đủ một bửa ăn mỗi ngày và để tiếp tục học hành.

Một ngày kia, trong lúc đang làm việc, máu bỗng trào ra đầy miệng tôi. Tiếp theo đó, máu cũng chảy ra nơi lỗ mũi. Tôi cố gắng để khỏi bị nghẹt thở cho đến khi ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, áo quần tôi dính đầy máu. Tôi không thể gượng dậy được vì quá choáng váng. Tôi cũng không biết tôi đã nằm tại đó bao lâu. Cuối cùng, tôi phải khó nhọc lắm mới đứng dậy được và bước về nhà. Suốt đêm tôi bị lên cơn sốt mê man, lúc mê lúc tỉnh, và mỗi lần ho máu lại trào ra.

Sáng hôm sau, tôi cảm thấy gần chết hơn là sống. Cha mẹ tôi đưa tôi đến một bịnh viện và nhờ một y sĩ khám nghiệm. Ông ta chụp quang tuyến X buồng phổi của tôi, sau đó ông bảo tôi: "Tôi rất buồn, nhưng chúng tôi không thể làm gì cho anh được. Anh không thể sống thêm một tháng nữa."

"Bác sĩ!" Tôi thét lên: "Ông đang nói thật với tôi chứ?"

ANH KHÔNG THỂ SỐNG THÊM MỘT THÁNG NỮA:

Vị y sĩ cho tôi xem tấm phim chụp quang tuyến X và giải thích: "Lá phổi bên phải của anh hoàn toàn bị hủy hoại vì bịnh lao. Phần bên trái đã nát và ung thối. Lá phổi bên trái của anh cũng bị lao. Tình trạng thiếu dinh dưỡng và làm việc cực nhọc đã khiến trái tim anh nở lớn ra, và khiến cho máu không thể lưu thông điều hòa. Không có một loại dược phẩm nào có thể chữa trị những chứng bịnh này, cho nên tôi không còn cách nào khác hơn là nói với anh sự thật!"

Tôi trở về nhà, người choáng váng. Cha tôi an ủi tôi: "Con ạ, không có sinh cũng không có tử, không có vui cũng không có buồn. Chỉ ở trong Phật mới có sự thực hữu. Con hãy quên sự sống sự chết đi để lo tịnh dưỡng." Tôi phản đối: "Máu đang trào ra nơi miệng con là thật. Sự đau đớn mà con đang chịu đựng là thật. Phật và những triết lý của cha không giúp ích gì cho con cả. Con bác bỏ hết."

Một hôm, đang khi nằm trong chiếc lều, sự sợ hãi và tuyệt vọng xâm chiếm tâm tư tôi. Tôi gào lên: "Có Thượng Đế không? Nếu có Đấng nào gọi là Thượng Đế đang ở chỗ nào trong vũ trụ, xin đến và cứu giúp tôi! Tôi muốn được sửa soạn để chết!"

CÓ THƯỢNG ĐẾ TRONG VŨ TRỤ KHÔNG?
Thượng Đế đã nghe lời cầu xin của tôi và Ngài đã trả lời bằng một hình thức mà tôi không nghĩ đến! Một cô gái nhỏ gõ cửa và bước vào, tay ôm quyển Kinh Thánh. Tôi kinh ngạc vì theo văn hóa của Đại Hàn, đàn bà không cấp tiến và đàn ông không thích để đàn bà dạy dỗ. Tôi quyết liệt bảo cô bé rời khỏi căn lều, nhưng cô nói rằng: "Tôi biết ông đang sắp chết, tôi muốn được nói chuyện với ông về Đức Chúa Giê-xu Christ, Cứu Chúa của tôi."

Tôi càng giận dữ và mắng nhiếc cô gái. Tôi bảo cô rằng hàng triệu vi trùng lao đang bay đầy trong không khí và cô sẽ bị lây bịnh. Cô chỉ trả lời: "Đấng Christ của tôi sẽ bảo vệ tôi"; và cô tiếp tục làm chứng cho tôi. Cuối cùng cô rời căn lều và tôi nói: "Nhờ ơn Phật, cô ta đã đi."

Sáng hôm sau cô gái trở lại. Lần này cô hát những bài ca và đọc lớn những lời trong Kinh Thánh. Tôi nguyền rủa và gọi cô ta là "một con chó Cơ-đốc", nhưng cô ta không có phản ứng gì cả. Suốt ngày chỉ nói về Đấng Christ.

Vào ngày thứ năm khi cô gái đến, tôi hỏi tại sao cô tiếp tục đến và cầu nguyện cho tôi. Cô bảo tôi: "Có một Đấng thúc dục tôi đến đây và cầu nguyện cho ông."

"Đấng đó là ai? Tôi hỏi cô gái.

"Là Đức Chúa Giê-xu của tôi." Cô gái trả lời và nước mắt bắt đầu chảy dài xuống trên đôi má của cô. Thình lình sự cố chấp của tôi tan biến, tôi cũng bắt đầu khóc và bảo cô gái: "Tôi muốn biết Chúa Giê-xu của cô."

Cô trao cho tôi quyển Kinh Thánh và tôi bắt đầu đọc từ chỗ được cô chỉ dẫn, đoạn thứ nhất của sách Mathiơ. Mấy phút sau tôi kêu lên: "Đoạn này giống như một cuốn điện thoại niên giám, làm thế nào giúp ích tôi được?" Cô bảo tôi cứ tiếp tục đọc và sẽ tìm được một câu chuyện kỳ diệu. Sau khi cầu nguyện thêm một lần nữa, cô gái rời khỏi căn lều.

Tôi đọc tiếp, đinh ninh sẽ gặp những triết lý khó hiểu, giống như triết lý của Phật giáo mà tôi đã đọc. Nhưng tôi khám phá ra: Kinh Thánh là một quyển sách nói về một Đấng gọi là Giê-xu Christ, con của Đức Chúa Trời.

Tôi đọc những chỗ nói về Đức Chúa Giê-xu chữa lành kẻ đau và cứu kẻ chết sống lại. Tôi nghĩ rằng nếu tôi chỉ đến với Chúa Giê-xu thì Ngài sẽ giúp tôi. Nhưng lý trí lại cho rằng tôi không thể đến với Ngài được. Tôi đã xúc phạm và ghét Ngài. Tôi cố gắng tìm một câu Kinh Thánh dẫn chứng rằng Đấng Christ ghét bỏ tội nhân, nhưng hoài công tôi chẳng tìm được một câu nào cả. Trái lại, tôi thấy Ngài đã tha thứ cho người đàn bà tà dâm và giải thoát những kẻ bị quỷ ám. Ngài luôn luôn tiếp nhận kẻ đau ốm và người tội lỗi. Dần dần tôi ý thức được rằng, mặc dù tôi là một người nghèo nhất trong đám người nghèo, một kẻ đầy tội lỗi và sắp chết vì bịnh lao phổi, Đức Chúa Giê-xu sẽ tiếp nhận tôi.

Từ ngày tặng cho tôi quyển Kinh Thánh, cô gái không trở lại. Tôi không biết tên cũng không biết làm thế nào để tìm cô gái. Tôi đang cần một người hướng dẫn tôi để gặp Đức Chúa Giê-xu. Tôi cố gắng bước ra ngoài đường phố và dọ hỏi. Một người chỉ cho tôi một cơ sở truyền giáo, ở đó có một tu sĩ người Hoa Kỳ.

TÔI MUỐN BIẾT ĐỨC CHÚA Giê-xu CỦA CÔ:
Tôi kiệt sức đến nỗi không thể đi được mười bước mà không nghỉ, tôi phải nhờ người đàn ông đó đưa đi đến cơ sở truyền giáo. Khi chúng tôi đến nơi, người ta đang ca hát, gương mặt của mọi người đầy vẽ hân hoan. Vị tu sĩ người Mỹ đứng lên để giảng dạỵ. Tôi ngạc nhiên vì ông không mặc áo dài như những tu sĩ Phật giáo. Ông giảng qua một thông dịch viên, những lời giảng làm tôi cảm động. Khi ông mời những tội nhân bước lên phía trước, tôi là người đầu tiên đến gặp ông. Vị tu sĩ đưa tôi vào văn phòng, giải thích cho tôi biết chương trình cứu rỗi và hướng dẫn tôi cầu nguyện ăn năn tội.

Trong khi tôi cầu nguyện ăn năn tội với Đức Chúa Trời và quyết định tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của chính tôi, thì một niềm bình an tràn ngập trong tôi. Tôi cảm thấy tất cả tế bào trong thân tôi đều nhận được một sức mới. Có một năng lực đang dâng trào lên trong người tôi và tôi tưởng rằng tôi sắp ói ra máu. Nhưng không phải, tôi nhận ra rằng đó là niềm vui! Tôi muốn hát vang lên, nhưng lại không biết hát như thế nào.

Tôi hỏi vị tu sĩ, đó là ông Louis Richards, một giáo sĩ thuộc giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần: "Đây là sự thực? Tôi đang bị thôi miên phải không?"

Ông trả lời: "Anh không bị thôi miên đâu. Đức Chúa Giê-xu, nguồn nước hàng sống, đang chảy trào vào cuộc đời của anh. Đây là bằng chứng mà anh đang cảm thấy."

Tôi trở về nhà mang theo niềm vui sướng cùng sự bình an. Tôi kể lại cho gia đình nghe những điều đã xảy ra. ở Đại Hàn, người thờ phượng Đức Chúa Giê-xu có nghĩa là chấm dứt thờ cúng vong linh của tổ tiên. Sự kiện này thường dẫn đến sự đoạn giao của gia đình. Chị tôi, người mà tôi kính yêu, đã thuyết phục tôi: "Em yêu mến Giê-xu hơn gia đình sao? Em có thể bỏ hết gia đình vì Ngài sao?" Còn cha tôi thì bảo rằng ông không còn quan tâm đến sự sống chết của tôi nữa, và bảo tôi phải rời khỏi gia đình ngay. Tôi lấy một ít đồ dùng và đi đến nhà ông bác tôi. Gặp tôi ở ngưỡng cửa, bác tôi liền bảo: "Con chó Cơ-đốc bẩn thỉu, mày không được đón tiếp nơi đây đâu. Hãy đi chỗ khác."

Tôi không còn nơi nào khác để đi, nhưng niềm vui sướng và sự bình an vẫn tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi quyết định đi lên núi đặng chờ chết. Lúc bấy giờ một ý nghĩ khác đến với tôi. Tôi phải đến nói vài lời cám ơn cuối cùng với người Mỹ đã hướng dẫn tôi gặp Đức Chúa Giê-xu.

Gặp ông ở ngoài cửa, tôi nói: "Anh Richard, tôi thành thật cám ơn lòng tốt của anh đã hướng dẫn tôi đến với Đấng Christ. Từ khi tiếp nhận Ngài, gia đình đã từ bỏ tôi, cho nên tôi sắp lên núi để chờ chết. Tuy nhiên, tôi muốn anh biết rằng tôi biết ơn anh."

Mục Sư Richard kéo tôi vào trong nhà và đọc Kinh Thánh cho tôi nghe: "Khi cha mẹ từ bỏ tôi, Chúa sẽ đón tiếp tôi." Ông bà Richard dọn một chỗ cho tôi trong căn nhà của họ. Bà Richard nấu những món ăn ngon và chúng tôi cùng ngồi ăn.

Tôi đã khóc trong lúc ngồi ăn và nói rằng: "Anh Richard, tôi không biết rằng anh yêu thương tôi. Anh không liên hệ gì với tôi, sao anh có thể yêu thương tôi như thế này? Ông trả lời: "Bởi vì Đức Chúa Giê-xu cũng đã cứu tôi."

Lương tâm không cho phép tôi ở chung trong nhà của họ mà tạo những tai hại cho họ vì chứng lao phổi của tôi. Cho nên nhờ sự giúp đỡ của Chúa, tôi thuê được một căn phòng nhỏ bên cạnh.

Mục sư Richard tiếp tục dạy Kinh Thánh cho tôi. Ông bảo tôi: "Lời Chúa có quyền năng sáng tạo phi thường. Lời Chúa sẽ chửa lành cho anh." Điều này hầu như quá siêu phàm đối với thực tế, nhưng Mục sư Richard đã chỉ tôi nhiều đoạn Kinh Thánh. Tôi học thuộc những câu Kinh Thánh này và một ngày kia tôi đem ra thí nghiệm.

Tôi khóa cửa phòng và bắt đầu cầu nguyện: "Kính lạy Đức Chúa Giê-xu, con muốn được gặp Ngài, xin cho con biết rõ tương lai của con." Tôi chờ đợi, nhưng Đức Chúa Giê-xu Christ không đến. Sau đó tôi nhắm nghiền mắt lại, hy vọng Ngài có thể hiện ra trong một sự hiện thấy. Nhưng không có một sự hiện thấy nào. Tôi cầu nguyện suốt ngày. Đêm đến ngực tôi đẩm ướt mồ hôi, nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện. Quá nửa đêm, tôi không còn sức lực và nằm xuống nghỉ.

Thình lình căn phòng sáng rực. Những luồng ánh sáng thoạt đầu tôi tưởng là khói đang cuộn vào. Tôi kinh hoàng, tưởng căn nhà đang bốc cháy. Tôi kêu la, nhưng không có âm thanh nào toát ra.

Tuyệt vọng, tôi ngó chung quanh và thấy hai bàn chân đứng bên cạnh tôi. Tôi nhìn lên cao hơn và thấy một chiếc áo dài trắng. Rồi tôi thấy một gương mặt giống như mặt trời sáng rực, đang phát chiếu những tia sáng. Tôi vẫn không biết Đấng đó là ai, cho đến khi tôi nhận ra chiếc mão bằng gai. Những gai nhọn đâm vào thái dương, đầu Ngài, và những giọt máu đang chảy dài xuống. Lúc bấy giờ tôi nhận biết Ngài là Đức Chúa Giê-xu Christ. Tình yêu của Ngài tràn ngập tâm hồn tôi.

Trước kia những vị thần của tôi là những thần của sợ hãi và tai ương. Tôi thường đến đền thờ của những vị thần này để xin khỏi bị trừng phạt. Nhưng Đức Chúa Giê-xu thì lại khác hẳn. Tôi cảm nhận tình yêu của Ngài và tất cả sợ hãi đều tan biến.

Một niềm hân hoan tuyệt vời phát xuất từ đáy lòng của tôi. Môi và lưỡi tôi bắt đầu nói. Tôi thở ngắn lại và dường như có một Đấng đang điều khiển và bắt phục môi lưỡi tôi. Tôi không biết điều đó là gì, nhưng tôi nhận thật rằng tôi càng nói, càng cảm thấy thoải mái hơn. Cho nên tôi cứ nói và tiếp tục nói.

Khi tôi ý thức ngó lại sự vật chung quanh, Đức Chúa Giê-xu đã biến dạng, nhưng sự vinh hiển vẫn còn tràn vào tâm hồn tôi. Tôi quên hẳn sự đau nhức trong tim, trong phổi tôi và chạy đến cơ sở truyền giáo. Tôi bảo Mục Sư Richard rằng tôi đã thấy Đức Chúa Giê-xu và đã nói một thứ tiếng lạ. Ông mở Kinh Thánh đoạn 2 của sách Công vụ các sứ đồ và giải thích cho tôi biết: tôi đã được báp têm trong Đức Thánh Linh như các môn đồ đầu tiên. Chúng tôi khóc lên vì vui sướng.

Sự từng trải mới mẽ này khiến tôi muốn làm chứng về Chúa. Tôi đi ra ngoài đường phố và nói về Đức Chúa Giê-xu với mọi người đang khi sức khoẻ tôi khả quan hơn. Tôi đã đi từ nhà này sang nhà khác.

Một hôm tôi nhận thức rằng tôi không còn đau đớn trong tim và cũng không còn khó thở nữa. Tôi đi đến bịnh viện, sau khi khám nghiệm và chiếu quang tuyến X, y sĩ bảo tôi buồng phổi của tôi rất tốt, không còn vết tích bịnh lao. Tim của tôi cũng bình thường.

Được sự khuyến khích của các giáo sĩ giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần, tôi ghi danh học thần đạo ở Hán Thành. Thường thì tôi không có tiền. Vào những lúc thời tiết lạnh thì các giáo sĩ cho tôi mượn áo choàng để tôi không bị lạnh. Nhưng tôi có Đức Chúa Trời, có Kinh Thánh và có sự bình an.

Sau đó, tôi bắt đầu rao giảng đạo Chúa trong một căn lều vải rách rưới, trên một khu đất bỏ hoang. Một nhóm tín hữu nghèo khổ nhóm họp tại đó. Tôi kể cho họ những điều mà Đức Chúa Giê-xu đã làm cho tôi, và bảo rằng Ngài sẽ làm những điều đó cho họ. Chẳng bao lâu căn lều đầy người và họ phải đứng ở bên ngoài.

Chúng tôi cần có một chỗ để thờ phượng Chúa lâu dài vì sự phát triển của Hội Thánh, và chúng tôi đã mua được một cơ sở trung tâm ở Hán Thành. Cuộc phấn hưng tiếp tục. Chẳng bao lâu hàng trăm giáo hữu nhóm chật thánh đường. Chúng tôi phải nới rộng phòng họp và phải tổ chức hai thánh lễ mỗi buổi sáng Chúa Nhật, rồi ba lễ, bốn lễ. Ngôi thánh đường mới của chúng tôi có 10.000 chỗ ngồi đã được hoàn tất. Trong năm vừa qua có 1.000 tín hữu mới thêm vào Hội Thánh.

Hội Thánh chúng tôi tăng trưởng bởi vì chúng tôi giảng về Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi. Ngài tiếp nhận tôi khi tôi sắp chết, cứu tôi, chữa lành cho tôi và báp têm trong Đức Thánh Linh cho tôi. Đó là những điều mà nhân loại hiện đang khao khát. Triết lý và tôn giáo không đáp ứng được nhu cầu của nhân loại. Thế giới cần sự hiện diện của Đức Chúa Jesus Christ.

Bạn thân mến,

Sau khi đọc xong quyển sách nhỏ nầy nếu bạn muốn vâng phục Đức Chúa Giê-xu Christ, tin nhận Ngài làm Cứu Chúa cho cá nhân mình, bạn hãy quỳ xuống hướng lòng về Chúa mà cầu nguyện:
"Lạy Đức Chúa Trời, con vốn là tội nhân đáng phải bị đoán phạt trong hỏa ngục, nhưng Ngài đã thương yêu con, ban Con Một của Ngài là Đức Chúa Giê-xu Christ giáng thế để đền tội cho con. Giờ đây con ăn năn tội của con, xin Ngài tha thứ con và tiếp nhận con làm con cái của Ngài. Cầu xin Đức Chúa Thánh Linh dẫn dắt con vào mọi lẽ thật của Chúa và tái tạo con trở nên người mới để con có sự dạn dĩ mà làm chứng cho Ngài. Con thành tâm cầu nguyện nhơn danh Đức ChúaGiê-xu Christ. Amen!
Bài làm chứng của Mục Sư Tiến Sĩ Paul Yonggi Cho,
dịch từ quyển "Khi Phật không trả lời" từ Anh Ngữ ra Việt Ngữ.
Đây là câu chuyện thật, tác giả là con trai trong một gia đình sùng kính Phật giáo. Ông bị bịnh lao phổi xuất huyết sắp chết, được Đức Chúa Giê-xu chữa lành và trở thành một nhà truyền giáo nổi danh trên thế giới, về những công việc quyền năng mà Chúa đã làm, qua đời sống chức vụ của ông. Ông hiện là Hội Trưởng giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần (Assemblies of God) Hàn Quốc.

MS PAUL YONGGI CHO


Đọc Tiếp ...

Kinh Thánh và Khoa học có hỗ trợ thuyết luân hồi không?



Giới thiệu
Động lực chính tôi viết bài này là từ một cuộc trò chuyện của tôi với vị giám sát người Do Thái Chính thống giáo của tôi. Chúng tôi đã có nhiều cuộc thảo luận về thần học và các vấn đề “cấm kỵ” khác tại nơi làm việc. Trong các cuộc thảo luận, tôi đã tìm thấy rằng Cơ đốc giáo và  Do Thái Chính Thống Giáo dạy các khái niệm tương tự liên quan đến đạo đức và thần học (sự khác biệt rõ ràng là về Đấng Mê-si). Trong một cuộc trò chuyện, tôi đã rất ngạc nhiên khi biết rằng luân hồi là một học thuyết được chấp nhận bởi người Do Thái Chính Thống. Trong thực tế, một tuyên bố của Rabbi Do Thái Chính Thống Giáo, lãnh đạo của Chính thống giáo lớn nhất nền chính trị Israel, gần đây đã tác động đáng kể trên toàn thế giới. Theo các Rabbi, tất cả sáu triệu người Do Thái bị giết trong cuộc tàn sát của Đức Quốc xã là những người tội lỗi, những người được đầu thai, ít nhất là một phần trong số đó, để chuộc tội lỗi của họ từ quá khứ
Trong sự cố gắng để bảo vệ giáo lý của Cơ đốc giáo chống lại thuyết luân hồi, tôi thấy rằng tôi không thể tìm thấy một câu Kinh Thánh nào trong Cựu ước chống lại thuyết luân hồi. Tuy nhiên, tôi cho rằng phải có một số câu, kể từ khi đó tôi biết rằng Cơ đốc nhân có thể tìm thấy trong Cựu Ước hầu như tất cả các học thuyết.
Khoa học bác bỏ thuyết luân hồi
Khái niệm về thuyết luân hồi được chấp nhận rộng rãi giữa những người ngoài Cơ đốc giáo, có lẽ bởi vì nó thu hút nhiều người muốn tin rằng họ sẽ được cung cấp một cơ hội thứ hai trong trường hợp họ không thể đạt được một chuẩn mực nào đó trong đời này. Cơ đốc giáo chống lại thuyết luân hồi bởi vì nó là không cần thiết, vì ai cũng có thể “đạt được chuẩn mực” chỉ đơn giản là thông qua một hành động quyết định đặt đức tin vào Chúa Giêsu. Khoa học bác bỏ thuyết tái sinh là khá đơn giản. Do sự bùng nổ dân số, những người hiện đang sống trên trái đất nhiều hơn là những người đã từng sống trên trái đất trong toàn bộ lịch sử của nhân loại. Nói cách khác, hơn một nửa những người đã từng sống trên trái đất chưa bao giờ chết dù chỉ một lần! Đơn giản là không đủ linh hồn người chết để quay trở lại lần thứ hai. Điều này không hoàn toàn loại bỏ thuyết luân hồi, nhưng làm hạn chế mức độ của nó, đặc biệt là đối với những người đã tuyên bố đã từng sống nhiều lần trước đó. Tuy nhiên, một số người tin rằng linh hồn có thể được đầu thai thành động vật hoặc đầu thai từ động vật. Trong trường hợp đó, nhiều người có thể đã từng làm con ếch trước khi được làm hoàng tử.
Tân Ước nói gì?
Đầu tiên hãy nhìn vào những gì Tân Ước. Câu Kinh thánh được trích dẫn nhiều nhất chống lại thuyết luân hồi là từ một cuốn sách của Do Thái:
“Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27)
Rõ ràng, nếu một người chết chỉ một lần, sau đó anh ta không có thể được đầu thai. Những đúc kết khác về thuyết luân hồi đến từ Chúa Giêsu. Trong mô tả của Ngài về người ăn xin La-xa-rơ và người giàu có, Chúa Giê-su chỉ ra rằng người đàn ông giàu có đã không thể làm bất cứ điều gì cho số phận của mình (đau khổ đời đời trong địa ngục). Mục đích của luân hồi là cho phép mọi người một cơ hội thứ hai ở thiên đàng hay niết bàn. Trong những lời dạy của Chúa Giêsu, Ngài chỉ ra rằng mọi người sẽ chỉ có một cơ hội để có được sự sống đời đời, nếu không họ phải chịu hình phạt đời đời:
“Nếu tay hay là chân ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què chân hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là hai chân mà bị quăng vào lửa đời đời.” (Ma-thi-ơ 18:8)
“Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó.” (Ma-thi-ơ 25:41)
“Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.” (Ma-thi-ơ 25:46)
“Nó bèn lại đi, đem về bảy quỉ khác dữ hơn nó nữa, cùng vào nhà đó mà ở; vậy, số phận người ấy sau lại xấu hơn trước. Dòng dõi dữ nầy cũng như vậy.” (Ma-thi-ơ 12:45)
“Nó bèn đi rủ bảy quỉ khác dữ hơn mình vào nhà mà ở; vậy, số phận người nầy lại khốn khổ hơn phen trước.” (Lu-ca 11:26)
Những lá thư Tân Ước cũng chỉ ra rằng những người không ăn năn cuối cùng sẽ phải chịu chung một số phận không hề dễ chịu Vì vậy, cơ đốc giáo tuyên bố rằng thuyết luân hồi là hoàn toàn sai.
Cựu Ước nói gì?
Cựu Ước thực sự không nói rõ ràng về số phận của người chết, có khả năng có thể luân hồi chăng? Trái ngược với những gì tôi đã suy nghĩ ban đầu, Cựu Ước không im lặng về vấn đề này, nhưng cho chúng ta một quan điểm rất rõ ràng về đề tài này. Nhiều câu Kinh Thánh Cựu Ước khẳng định rằng người chết không quay trở lại đất của người sống nữa. Cựu Ước cũng khẳng định rằng mỗi người đều có một số phận đời đời sau khi chết.
Những lý lẽ mạnh nhất chống lại thuyết luân hồi được tìm thấy trong sách Gióp, trong đó tuyên bố nhiều lần rằng người chết không quay trở lại đất của người sống:
“Mây tan ra và đi mất thể nào, kẻ xuống âm phủ không hề trở lên, cũng thể ấy. Họ không hề trở về nhà mình nữa, và xứ sở người chẳng còn biết người.” (Gióp 7:9-10)
“Khi còn xanh tươi chưa phải phát, thì đã khô trước các thứ cỏ khác. Đường lối kẻ quên Đức Chúa Trời là như vậy: Sự trông cậy kẻ không kính sợ Đức Chúa Trời sẽ hư mất.” (Gióp 8:12-13)
“Trước khi tôi đi đến xứ tối tăm và bóng sự chết, không hề trở lại.” (Gióp 10:21)
Nước hồ chảy mất đi, sông cạn và khô: cũng vậy, loài người nằm, rồi không hề chỗi dậy: người chẳng hề thức dậy cho đến khi không còn các từng trời, và chẳng ai sẽ khiến cho người tỉnh lại khỏi giấc ngủ mình.” (Gióp 14:10-12)
“Vì ít số năm còn phải đến. Rồi tôi sẽ đi con đường mà tôi chẳng hề trở lại.” (Gióp 16:22)
Tôi đã nghe nói rằng một số giáo sĩ Do Thái giải thích những câu từ Gióp chỉ phủ nhận sự sống lại chứ không phủ nhận sự đầu thai. Tuy nhiên, Gióp không đề cập đến sự sống lại, ông đặc biệt đề cập đến trở về nhà của mình hoặc vị trí của mình. Ngoài ra, lúc đó Gióp khẳng định sự sống lại, kể từ khi làn da của mình bị hủy diệt ông sẽ nhìn thấy Thiên Chúa trong thân xác của mình.
“Sau khi da tôi, tức xác thịt nầy, đã bị tan nát, bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời.” (Gióp 19:26)
Sách Gióp cũng chứa các lý lẽ được sử dụng như bằng chứng hỗ trợ thuyết luân hồi:
“Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng. Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người đến hai lần, hoặc ba lần, đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.” (Gióp 33:28-30)
Chương này dường như để hỗ trợ sự luân hồi. Tuy nhiên, quan điểm của Ê-li-hu, không nhất thiết phải chính xác. Ví dụ, Ê-li-hu nói trong chương 36 rằng Chúa đánh giá bất công với Gióp, Chúng tôi biết điều này là sai, bởi vì nó là Sa-tan, người đã gây ra tất cả các nghịch cảnh xảy ra với Gióp. Trong chương 1, Chúa nói về Gióp “Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng; nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác?” (Gióp 1:8). Ngoài ra, ở cuối bài phát biểu của Ê-li-hu, ở Chương 38, Chúa nói với Gióp rằng: “Kẻ nầy là ai dám dùng các lời không tri thức, Mà làm cho mờ ám các mưu định ta?” (Gióp 38:2). Với phản ứng như vậy của Chúa, tôi không chắc rằng chúng ta phải chấp nhận tất cả mọi thứ Ê-li-hu nói là đúng.
Kết luận
Sự luân hồi là một niềm tin phổ biến trong “tinh thần” của nhiều người, và thường được phổ biến tại hầu hết các tôn giáo lớn. Nó được phổ biến như vậy bởi vì mọi người muốn tin rằng họ sẽ được cung cấp một cơ hội thứ hai nếu họ “thất bại” trong cuộc sống đầu tiên của họ. Trong Do Thái giáo, nơi mà sự cứu rỗi là dựa trên việc “làm điều tốt,” thì người ta có thể bị lên án khá dễ dàng chỉ bằng việc phạm một số sai lầm lớn trong cuộc sống của mình. “Hy vọng” về sự tái sinh cung cấp một lối thoát từ một Thiên Chúa, Đấng luôn đòi hỏi sự công bình. Tuy nhiên, cả Cựu Ước và Tân Ước không đề cập tái sinh như là một tùy chọn mà Thiên Chúa lựa chọn để sử dụng. Tại sao Thiên Chúa không cho phép một cơ hội thứ hai cho những người phạm sai lầm về nỗ lực đầu tiên của họ? Câu trả lời là khá đơn giản. Sự cứu rỗi là một món quà miễn phí cho tất cả những ai muốn nó. Nó đòi hỏi sự ăn năn chỉ từ cuộc sống trước đây của bạn (thừa nhận bạn đã sai và muốn thay đổi) và niềm tin trong công việc đã hoàn thành của Chúa Giêsu trên thập tự giá để chuộc tội lỗi của bạn. Bất cứ ai cũng có thể được cứu thông qua phúc âm (một tin tốt lành) của Chúa Giêsu. Đừng mong đợi một cơ hội thứ hai để đi đến thiên đàng. Hôm nay là ngày cứu rỗi!

Does the Bible and Science Support Reincarnation?
by Rich Deem

Introduction

My primary impetus in doing this page was from a conversation I had with my Orthodox Jewish supervisor. We have had many discussions about theology and other subjects that are "taboo" in the workplace. In these discussions, I have found that Christianity and Orthodox Judaism teach similar concepts regarding morality and even theology (with obvious differences about who the Messiah is). In one conversation, I was very surprised to learn that reincarnation is a doctrine accepted by Orthodox Jews. In fact, a statement by Rabbi Ovadia Yosef, the leader of the largest ultra-Orthodox Israeli political party, recently caused considerable stir throughout the world. According to the Rabbi, all of the six million Jews killed in the Nazi Holocaust were sinners who were reincarnated, at least in part, to atone for their sins from a past life.1
In trying to defend the Christian doctrine opposing reincarnation, I found that I was unable to think of even one Old Testament verse that disputed reincarnation. However, I assumed that some verses must exist, since I have found that virtually all Christian doctrines can be found in the Old Testament.

A scientific rebuttal to reincarnation

The concept of reincarnation is widely accepted among non-Christians, probably because it appeals to many who would like to believe that they would be given a second chance in case they failed to make the grade in this life. Christianity disputes reincarnation because it is unnecessary, since anybody can "make the grade" simply through an act of their own will through faith inJesus Christ. The scientific rebuttal to reincarnation is quite simple. Because of the population explosion, more people are currently living on the earth than have ever lived on the earth for the entire history of humankind. In other words, over half of the people who have ever lived on earth have never died even once! There simply are not enough dead souls to go around for a second time. This does not absolutely eliminate reincarnation, but it does severely restrict its extent, especially for those who have claimed to have lived several times before. However, some people believe that souls can be reincarnated into or from animals. In that case, it is possible that many people have been frogs before they became princes.

What the New Testament says

Let's look at what the New Testament says first. The most quoted verse disputing reincarnation is from the book of Hebrews:
And inasmuch as it is appointed for men to die once and after this comes judgment, (Hebrews 9:27)
Obviously, if a person dies only once, then he can't be reincarnated. Other refutations of reincarnation came from Jesus. In His description of Lazarus the beggar and the rich man, Jesus indicated that the rich man was unable to do anything about his fate (eternal torment in Hell).2Reincarnation is supposed to allow a person a second chance at heaven or nirvana. Jesus, in His teachings, indicated that people would have only one chance to obtain eternal life, otherwise suffer eternal punishment:
If your hand or your foot causes you to sin cut it off and throw it away. It is better for you to enter life maimed or crippled than to have two hands or two feet and be thrown into eternal fire. (Matthew 18:8)
"Then he will say to those on his left, 'Depart from me, you who are cursed, into the eternal fire prepared for the devil and his angels. (Matthew 25:41)
"Then they will go away to eternal punishment, but the righteous to eternal life." (Matthew 25:46)
"Then it goes and takes with it seven other spirits more wicked than itself, and they go in and live there. And the final condition of that man is worse than the first. That is how it will be with this wicked generation." (Matthew 12:45)
" Then it goes and takes seven other spirits more wicked than itself, and they go in and live there. And the final condition of that man is worse than the first." (Luke 11:26)
The New Testament letters also indicate that unrepentant people would suffer a final, unpleasant fate.3 Therefore, it is widely accepted by Christians that the New Testament declares reincarnation to be false.

What the Old Testament says

Is the Old Testament really so unclear about the fate of the dead that reincarnation is a possibility? Contrary to what I had originally thought, the Old Testament is not silent on the issue, but provides a clear stance on the subject. Many Old Testament verses affirm that the dead do not return to the land of the living.4 The Old Testament also affirms that people will enter into an eternal destiny after death.5
The strongest argument against reincarnation comes from the book of Job, which declares several times that the dead do not return to the land of the living:
"When a cloud vanishes, it is gone, So he who goes down to Sheol does not come up. "He will not return again to his house, Nor will his place know him anymore. (Job 7:9-10)
While still growing and uncut, they wither more quickly than grass. Such is the destiny of all who forget God; so perishes the hope of the godless. (Job 8:12-13)
Before I go-- and I shall not return-- To the land of darkness and deep shadow; (Job 10:21)
But man dies and is laid low; he breathes his last and is no more. As water disappears from the sea or a riverbed becomes parched and dry, so man lies down and does not rise; till the heavens are no more, men will not awake or be roused from their sleep. (Job 14:10-12)
"For when a few years are past, I shall go the way of no return. (Job 16:22)
I have heard that certain rabbis interpret the verses from Job as denying resurrection rather than reincarnation. However, Job could not be referring to resurrection, since he specifically refers to returning to his house or his place. In addition, at one point, Job affirms resurrection, since his skin will be destroyed yet he will see God in his flesh.
I know that my Redeemer lives, and that in the end He will stand upon the earth. And after my skin has been destroyed, yet in my flesh I will see God; (Job 19:26)
The book of Job also contains the main argument used as evidence supporting reincarnation:
'He has redeemed my soul from going to the pit, And my life shall see the light.' Behold, God does all these oftentimes with men, To bring back his soul from the pit, That he may be enlightened with the light of life. (Job 33:28-30)
This chapter does seem to support reincarnation. However, the opinion is that of Elihu, whose speech is not necessarily accurate. For example, Elihu says in chapter 36 that God is judging Job because of unrighteousness.6 We know this is wrong, because it was Satan who caused all the adversity to happen to Job.7 In chapter 1, God said of Job, "Have you considered My servant Job? For there is no one like him on the earth, a blameless and upright man, fearing God and turning away from evil."8 In addition, at the end of Elihu's speech, in Chapter 38, God says that Job's friends "counsel by words without knowledge."9 Given God's response, I'm not sure we are to accept everything Elihu says as being true.

Conclusion Top of page

Reincarnation is a popular belief among many "spiritual" people, and is commonly held in most major religions. It has such popularity because people would like to believe that they will be given a second chance if they "blow it" in their first life. In Judaism, where salvation is based upon "being good," one could be condemned quite easily by making some major mistakes in his life. The "hope" of reincarnation provides an escape from a God who demands righteousness. However, both the Old and New Testaments do not leave reincarnation as an option that God chose to use. Why would God not allow a second chance for those who made mistakes on their first attempt? The answer is quite simple. Salvation is a free gift for all who want it. It requires only repentance from your former life (admitting you were wrong and wish to change) and belief in the completed work of Jesus Christ on the cross to atone for your sins. Anyone can be saved through the gospel (good news) of Jesus Christ. Don't expect a second chance to go to heaven. Today is the day of salvation!
For more information on salvation click the link below:
Questions on Salvation

References Top of page

  1. Israeli rabbi stirs uproar by saying Holocaust victims were reincarnated sinners (AP, August 6, 2000).
  2. Luke 16:19-31. 'And besides all this, between us and you a great chasm has been fixed, so that those who want to go from here to you cannot, nor can anyone cross over from there to us.' (Luke 16:26)
  3. And these will pay the penalty of eternal destruction, away from the presence of the Lord and from the glory of His power, (2 Thessalonians 1:9)
    Therefore leaving the elementary teaching about the Christ, let us press on to maturity, not laying again a foundation of repentance from dead works and of faith toward God, of instruction about washings, and laying on of hands, and the resurrection of the dead, andeternal judgment. (Hebrews 6:1-2)
    And angels who did not keep their own domain, but abandoned their proper abode, He has kept in eternal bonds under darkness for the judgment of the great day. (Jude 1:6)
    In a similar way, Sodom and Gomorrah and the surrounding towns gave themselves up to sexual immorality and perversion. They serve as an example of those who suffer thepunishment of eternal fire. (Jude 1:7)
  4. "But now he has died; why should I fast? Can I bring him back again? I shall go to him, but he will not return to me." (2 Samuel 12:23)
    Thus He remembered that they were but flesh, A wind that passes and does not return. (Psalm 78:39)
    This is an evil in all that is done under the sun, that there is one fate for all men. Furthermore, the hearts of the sons of men are full of evil, and insanity is in their hearts throughout their lives. Afterwards they go to the dead. For whoever is joined with all the living, there is hope; surely a live dog is better than a dead lion. For the living know they will die; but the dead do not know anything, nor have they any longer a reward, for their memory is forgotten. Indeed their love, their hate, and their zeal have already perished, and they will no longer have a share in all that is done under the sun. (Ecclesiastes 9:3-6)
    This is what the LORD says-- he who made a way through the sea, a path through the mighty waters, who drew out the chariots and horses, the army and reinforcements together, and they lay there, never to rise again, extinguished, snuffed out like a wick. (Isaiah 43:16-17)
    For thus says the LORD in regard to Shallum the son of Josiah, king of Judah, who became king in the place of Josiah his father, who went forth from this place, "He will never return there; but in the place where they led him captive, there he will die and not see this land again. (Jeremiah 22:11-12)
    then I will bring you down with those who go down to the pit, to the people of long ago. I will make you dwell in the earth below, as in ancient ruins, with those who go down to the pit, and you will not return or take your place in the land of the living. (Ezekiel 26:20)
  5. When I tried to understand all this, it was oppressive to me till I entered the sanctuary of God; then I understood their final destiny. Surely you place them on slippery ground; you cast them down to ruin. How suddenly are they destroyed, completely swept away by terrors! (Psalm 73:17-19)
    when men are afraid of heights and of dangers in the streets; when the almond tree blossoms and the grasshopper drags himself along and desire no longer is stirred. Then man goes to his eternal home and mourners go about the streets. (Ecclesiastes 12:5)
  6. "But you were full of judgment on the wicked; Judgment and justice take hold of you. "Beware that wrath does not entice you to scoffing; And do not let the greatness of the ransom turn you aside. "Will your riches keep you from distress, Or all the forces of your strength? "Do not long for the night, When people vanish in their place. "Be careful, do not turn to evil, For you have preferred this to affliction. (Job 36:17-21)
  7. The LORD said to Satan, "Have you considered My servant Job? For there is no one like him on the earth, a blameless and upright man, fearing God and turning away from evil." Then Satan answered the LORD, "Does Job fear God for nothing? "Have You not made a hedge about him and his house and all that he has, on every side? You have blessed the work of his hands, and his possessions have increased in the land. "But put forth Your hand now and touch all that he has; he will surely curse You to Your face." Then the LORD said to Satan, "Behold, all that he has is in your power, only do not put forth your hand on him." So Satan departed from the presence of the LORD. (Job 1:8-12)
    So the LORD said to Satan, "Behold, he is in your power, only spare his life." Then Satan went out from the presence of the LORD and smote Job with sore boils from the sole of his foot to the crown of his head. (Job 2:6-7)
  8. The LORD said to Satan, "Have you considered My servant Job? For there is no one like him on the earth, a blameless and upright man, fearing God and turning away from evil." (Job 1:8)
  9. Then the LORD answered Job out of the whirlwind and said, "Who is this that darkens counsel By words without knowledge? (Job 38:1-2)
Đọc Tiếp ...

Những Bài Viết Liên Quan

CNTTLS...